Tuấn
Thứ Hai. Tuần mười chín. T47.
Anh tắt ống kính phòng chứng cứ lúc mười chín giờ ba mươi. Ba nút, kiểu ba nút anh dùng mười ba năm: tắt ghi hình, tắt ghi âm, tắt kết nối đến máy chủ an ninh T49. Ba nút, kiểu ba nút chỉ anh biết, kiểu biết Đình Viễn cho anh khi anh nhận IO-07 mười một năm trước. Tuấn không biết, kiểu không biết vì Tuấn được cấp quyền khác: Tuấn tắt được hành lang T47, không tắt được phòng chứng cứ. Kiểu phân quyền Đình Viễn thiết kế: không ai có toàn bộ, mỗi người một mảnh, kiểu mảnh giữ mọi người trong vòng.
Phòng chứng cứ trống, kiểu trống mười ba năm bây giờ: tường trống, ô vuông nhạt, bàn gỗ sồi. Đèn vàng, quạt thông gió kêu. Ghế cô ngồi Chủ Nhật ở công viên khác ghế cô ngồi thứ Ba ở T47, nhưng anh vẫn nhìn ghế gỗ sồi cuối bàn và nghĩ về cô.
Chúng ta không chờ nữa.
Bốn từ cô nói hôm qua, nắng, ghế đá. Bốn từ, tay nắm tay, kiểu nắm ấm hơn lần đầu đêm mất điện (lần đầu: chặt, run, bóng tối. Lần hai: nhẹ, không run, nắng). Bốn từ nghĩa là: bắt đầu, kiểu bắt đầu cô dùng khi quyết, kiểu quyết cô dùng mười sáu tuần: quyết rồi không quay lại.
Anh gọi Tuấn.
Điện thoại nội bộ, đường dây T47, kiểu đường dây không qua tổng đài, kiểu đường dây anh và Tuấn dùng mười ba năm.
– Vào phòng chứng cứ.
Bốn từ. Không giải thích, không "khi nào rảnh." Kiểu bốn từ anh dùng khi ra lệnh, kiểu lệnh mười ba năm: ngắn, rõ, kiểu ngắn Đình Viễn dạy ("Lệnh không cần lý do. Lý do là của người ra lệnh.").
Tuấn đến sau ba phút. Cửa mở, đóng, bước vào. Tuấn đứng cạnh cửa, kiểu đứng anh biết mười ba năm: lưng thẳng, tay buông, mắt nhìn thẳng, kiểu đứng thuộc cấp mà anh nhìn và thấy mình mười năm trước. Cùng lưng thẳng. Cùng tay buông. Cùng mắt nhìn thẳng không cúi.
Tuấn ba mươi tuổi, kiểu ba mươi anh biết từ hồ sơ nhân sự: mặt gầy, xương gò má cao, tóc ngắn, sơ mi trắng tay dài gấp nếp ở cổ tay, kiểu gấp người làm việc nhiều bằng tay. Mắt Tuấn, kiểu mắt anh nhìn mười ba năm: tỉnh, không biểu cảm, kiểu tỉnh của người quan sát trước khi hành động, kiểu mắt Đình Viễn chọn.
Cùng mắt. Anh nghĩ. Kiểu mắt Đình Viễn chọn: tôi sáu tuổi, Tuấn hai mươi bảy. Hai người, hai thập kỷ, cùng mắt.
– Đóng cửa.
Tuấn đóng. Bước vào thêm hai bước, đứng giữa phòng, kiểu đứng giữa phòng chứng cứ trống, đèn vàng, tường trống. Anh đứng tường Đông, kiểu đứng mười ba năm.
Im lặng. Năm giây.
– Khang.
Anh nói. Một từ.
– Đêm mất điện.
Hai từ nữa.
– Em.
Một từ cuối. Ba cụm, kiểu ba cụm anh dùng khi đưa dữ kiện mà không cần hỏi: tên, thời gian, người. Kiểu đưa anh biết Tuấn hiểu, vì Tuấn ở trong hệ thống đủ lâu để biết ba cụm đó nghĩa là gì.
Tuấn nghe. Không động. Mắt nhìn anh, kiểu nhìn thẳng mười ba năm. Không chối, kiểu không chối anh biết trước: Tuấn không phải người chối, kiểu không chối vì chối là điểm yếu, kiểu điểm yếu Đình Viễn dạy cả hai tránh.
Im lặng. Ba giây.
– Lệnh từ T49.
Tuấn nói. Giọng đều, kiểu đều anh nghe mười ba năm, kiểu đều anh dạy Tuấn (hay Đình Viễn dạy Tuấn? Hay cả hai, kiểu cả hai vì Tuấn học từ anh mà anh học từ Đình Viễn, kiểu dây chuyền dao dạy dao).
– Khang là mối đe dọa. Rò rỉ cho nhiều phe. Chủ tịch muốn xử lý trước đại hội.
Anh nghe. Biết, kiểu biết từ cảm biến Nexgen Phúc cho cô: Tuấn quẹt thẻ T46 hai mươi mốt giờ bốn mươi bảy, vào phòng kỹ thuật T47 hai phút, hai mươi hai giờ mười một đến hai mươi hai giờ mười ba. Hai phút, Khang chết. Anh biết dữ kiện, kiểu biết từ Chủ Nhật khi cô nói ở công viên. Nhưng nghe Tuấn nói "lệnh từ T49" trực tiếp, kiểu nghe khác biết: nghe là xác nhận, kiểu xác nhận anh cần trước khi hành động tiếp.
– Đêm mất điện.
Anh nói. Chậm.
– Khang lên T47 lấy chứng cứ. Em lên sau mười bảy phút. Hai phút trong phòng kỹ thuật. Sau đó xuống B2 sáu phút. Rồi đi.
Tuấn nghe. Không ngạc nhiên anh biết, kiểu không ngạc nhiên vì Tuấn biết anh có nguồn, kiểu biết mười ba năm: anh luôn có nguồn, kiểu nguồn Đình Viễn cho anh trước khi cho Tuấn.
– Vâng.
Một từ. Kiểu một từ Tuấn dùng mười ba năm khi xác nhận, kiểu "vâng" không phải khiêm tốn, kiểu "vâng" là ghi nhận, kiểu ghi nhận dao dùng với dao.
– Cú đánh sau gáy.
Anh nói.
– Vật cứng. Một lần. Bốn phân.
Tuấn nghe. Không phản ứng.
– Cờ lê.
Tuấn nói. Giọng đều.
– Phòng kỹ thuật T47 có hộp dụng cụ bảo trì. Cờ lê ba mươi phân. Sạch – tôi lau.
Sạch. Anh nghe từ đó và tay phải, kiểu tay phải viết thư cho cô tối thứ Sáu, nắm nhẹ. Kiểu nắm anh không để Tuấn thấy, kiểu nắm phía sau tường Đông. Sạch, tôi lau. Ba từ, kiểu ba từ của người giết xong và dọn, kiểu dọn anh biết từ mười ba năm: mỗi lần xử lý, dọn, kiểu dọn hệ thống dạy.
– Tại sao phòng kỹ thuật?
– Khang đến phòng chứng cứ trước. Lấy thanh nhớ. Tôi ở hành lang T47 chờ. Khang ra, rẽ phải, vào phòng kỹ thuật thay vì xuống cầu thang. Tôi theo.
– Khang biết em ở đó?
Tuấn im. Hai giây.
– Không. Khang không biết. Mất điện, tối, Khang dùng đèn pin điện thoại. Tôi không dùng.
Không dùng đèn. Kiểu không dùng anh biết: đi trong tối mà không cần ánh sáng, kiểu đi Đình Viễn dạy, kiểu đi anh cũng biết. Hai con dao cùng kỹ năng, kiểu kỹ năng rèn và mua đều dạy giống nhau.
Im lặng. Dài hơn mọi khoảng im trước. Quạt thông gió kêu. Đèn vàng T47. Hai người đứng trong phòng trống, kiểu đứng mười ba năm anh đứng với trợ lý, với Đình Viễn, với bóng tối. Nhưng bây giờ: đứng với người giết Khang.
– Sổ bốn mươi chín dòng.
Anh nói. Đổi hướng, kiểu đổi hướng anh dùng khi chuyển từ dữ kiện A sang dữ kiện B, kiểu chuyển mười ba năm.
Tuấn nghe. Không động.
– Em ghi mọi vi phạm của tôi từ tuần hai. Bốn mươi chín dòng. Xóa nhật ký, xóa hình ảnh, nâng bảo vệ, nói dối chủ tịch.
– Vâng.
– Sổ đó không phải của em.
Tuấn nhìn anh. Mắt thay đổi nửa milimet, kiểu thay đổi anh nhận ra vì anh đọc mắt mười ba năm: nửa milimet mi trên nhích, kiểu nhích người bị nói đúng.
– Sổ đó là bảng điểm. Đình Viễn giao em ghi. Đo khi nào tôi hết hữu dụng. Kiểu đo ông ấy dùng ba mươi năm: đo bằng người khác, không tự tay, để khách quan.
Tuấn im. Năm giây.
– Anh biết từ bao giờ?
Tuấn hỏi. Lần đầu mười ba năm Tuấn hỏi ngược anh, kiểu hỏi ngược thuộc cấp không dùng với cấp trên, kiểu hỏi vì Tuấn cần biết.
– Từ khi em viết dòng bốn mươi bảy. Dòng bốn mươi bảy trùng số tầng. Kiểu trùng không phải ngẫu nhiên, em cố ý: em muốn tôi biết, bằng con số, không bằng lời.
Tuấn nhìn anh. Ba giây. Rồi, kiểu rồi nửa giây miệng mở trước khi nói:
– Tôi không viết dòng bốn mươi bảy vì muốn anh biết.
Anh dừng lại.
– Tôi viết vì đó là sự thật. Anh vi phạm quy trình lần thứ bốn mươi bảy. Tôi ghi. Kiểu ghi tôi dùng bốn mươi tám lần trước: ghi vì lệnh.
Anh nghe. Và biết Tuấn nói thật, kiểu thật nửa: Tuấn ghi vì lệnh, nhưng Tuấn cũng biết dòng bốn mươi bảy trùng số tầng, và Tuấn không sửa.
– Đình Viễn chọn em bao lâu rồi?
Tuấn im. Bốn giây.
– Ba năm. Tôi hai mươi bảy. Đình Viễn gặp tôi qua chương trình quản trị viên Aeternum. Lớp ba mươi người, bốn vòng phỏng vấn. Vòng cuối, một mình tôi. Ông ấy hỏi: "Em có gia đình?" Tôi nói: "Em gái. Bảy tuổi."
Anh nghe. Em gái. Bảy tuổi. Kiểu nghe anh biết từ hồ sơ: Nguyễn Thị Hà Vy, bảy tuổi, nội trú trường quốc tế quận 2, Đình Viễn trả học phí từ ba năm trước. Kiểu trả học phí ông ấy dùng ba mươi năm: không phải từ thiện, kiểu mua trung thành bằng con tin.
– Ông ấy nói: "Tôi lo cho em gái em. Đổi lại, em làm việc cho tôi. Không phải Aeternum. Cho tôi." Ba câu. Tôi hiểu.
– Em hiểu "cho tôi" nghĩa là gì?
– Không. Lúc đầu không. Tôi nghĩ bảo vệ cá nhân, thư ký riêng, kiểu công việc cấp cao không chính thức. Sau sáu tháng, tôi hiểu.
Im lặng. Anh biết "sau sáu tháng" nghĩa là gì: sau sáu tháng Tuấn thấy hồ sơ mã SP, thấy danh sách, thấy T47. Sau sáu tháng Tuấn hiểu "cho tôi" nghĩa là: giết cho tôi.
– Khang là lần đầu?
Tuấn nhìn anh. Hai giây.
– Vâng.
Một từ. Kiểu một từ nặng hơn mọi "vâng" trước. Kiểu "vâng" lần đầu giết, kiểu "vâng" anh nhớ: anh cũng có "vâng" lần đầu, mười chín tuổi, căn hộ quận 7, nôn ba lần.
– Em giết Khang vì lệnh. Hay vì em muốn?
Câu hỏi anh để cuối. Kiểu để cuối vì anh cần mọi dữ kiện trước, kiểu cần mười ba năm: đọc rồi hỏi, không hỏi rồi đọc.
Tuấn im. Lâu, kiểu lâu anh đếm: năm giây, mười giây, mười lăm giây. Tuấn nhìn thẳng, mắt không động, kiểu mắt người xử lý câu hỏi mà câu trả lời thay đổi mọi thứ.
Mười tám giây.
– Cả hai.
Hai từ. Tuấn nói, giọng đều, nhưng đều khác mọi lần: đều vì giữ, không phải đều vì quen.
– Lệnh từ T49. Nhưng tôi cũng muốn. Khang rò rỉ cho Diệp An, cho luật sư, cho báo chí. Khang chạy nhiều phe. Và anh – anh mất kiểm soát vì cô ấy. Tôi thấy: anh xóa nhật ký, anh nâng bảo vệ, anh nói dối chủ tịch. Anh sẽ phá T47. Và khi T47 vỡ, tất cả chết – kể cả em gái tôi.
Kể cả em gái tôi. Anh nghe và hiểu: Tuấn giết Khang không chỉ vì Đình Viễn. Tuấn giết vì sợ. Kiểu sợ anh biết: sợ mất người duy nhất, kiểu sợ anh biết vì anh từng sợ mất Đình Viễn (trước khi cha cô dạy anh Đình Viễn không đáng giữ), kiểu sợ dao mua sợ vì dao mua có người để mất.
– Em nghĩ giết Khang sẽ giữ T47.
Anh nói. Không hỏi.
– Tôi nghĩ giết Khang sẽ chậm mọi thứ lại. Chậm đủ để chủ tịch xử lý anh. Chậm đủ để đại hội bị hoãn. Chậm đủ để em gái tôi không bị ảnh hưởng.
– Không chậm.
– Không chậm.
Tuấn nói, giọng nhẹ hơn nửa tông.
– Anh không bị xử lý. Đại hội vẫn diễn ra. Bốn mươi bảy tỷ vẫn được nói ra.
Im lặng.
– Và Khang vẫn chết.
Anh nói. Ba từ, kiểu ba từ thêm vào sau Tuấn nói. Kiểu thêm anh dùng khi nhắc dữ kiện Tuấn bỏ quên: Khang chết, kiểu chết không hoàn tác, kiểu chết mà "không chậm" nghĩa là chết vô ích.
Tuấn nghe. Không nói. Mắt nhìn anh, kiểu nhìn thẳng mười ba năm. Nhưng anh thấy, kiểu thấy nửa milimet: mi trên Tuấn nhích, kiểu nhích người nghe thứ biết nhưng không muốn nghe lại.
Anh nhìn Tuấn. Đứng giữa phòng chứng cứ trống, đèn vàng, sơ mi trắng, tay buông. Ba mươi tuổi. Cùng mắt không khóc. Cùng tay sạch sẽ. Cùng "vâng" khi được hỏi. Cùng cách đứng lưng thẳng trước cấp trên.
Gương. Anh nghĩ. Kiểu gương mười năm trước: anh hai mươi tuổi, đứng phòng này, tay sạch, mắt không biểu cảm. Tuấn bây giờ là anh lúc đó. Kiểu là mà không biết, kiểu không biết vì dao không biết mình là dao cho đến khi ai đó nói "mày ăn cơm chưa."
– Đình Viễn chọn em vì cùng lý do chọn tôi.
Anh nói. Giọng đều, kiểu đều mười ba năm. Nhưng nhẹ hơn, kiểu nhẹ nửa tông anh dùng với cô, kiểu nhẹ anh không kiểm soát khi nói với người anh nhìn thấy mình bên trong.
Tuấn nghe. Ba giây.
– Vâng.
Một từ. Kiểu "vâng" cuối cùng, kiểu "vâng" khác mọi "vâng" trước: "vâng" này không phải ghi nhận. "Vâng" này là hiểu. Kiểu hiểu dao dùng khi nhìn vào gương và thấy: dao.
Anh nhìn Tuấn thêm ba giây. Rồi bước ra khỏi tường Đông, kiểu bước anh không dùng mười ba năm: bước về phía Tuấn, giữa phòng, đèn vàng. Dừng cách Tuấn một mét.
– Đình Viễn sẽ dùng em giết tôi.
Anh nói. Đều.
– Hoặc dùng tôi giết em. Một trong hai. Kiểu một trong hai ông ấy dùng ba mươi năm: dao cũ giết dao mới, hoặc dao mới giết dao cũ. Người sống sót phục vụ tiếp.
Tuấn nghe. Không động.
– Hoặc.
Anh nói.
– Cả hai dao bỏ tay cầm.
Im lặng. Tuấn nhìn anh. Anh nhìn Tuấn. Đèn vàng T47, phòng trống, quạt thông gió kêu.
Anh không nói thêm. Kiểu không nói anh dùng mười ba năm khi đặt lựa chọn: đặt rồi đợi, không ép, kiểu đợi Đình Viễn dạy (nhưng Đình Viễn dùng để kiểm soát, anh dùng để cho Tuấn chọn). Kiểu khác: Đình Viễn đặt lựa chọn nhưng chỉ có một đáp án. Anh đặt lựa chọn và Tuấn có hai.
Tuấn đứng giữa phòng. Ba mươi tuổi. Em gái bảy tuổi. Sổ bốn mươi chín dòng. Cờ lê ba mươi phân, sạch, đã lau.
Tuấn không trả lời. Kiểu không trả lời người cần thời gian, kiểu cần anh biết.
Anh quay lại tường Đông. Đứng. Kiểu đứng mười ba năm, kiểu đứng anh sẽ đứng cho đến khi Tuấn chọn.
Cả hai dao bỏ tay cầm. Sáu từ anh nói. Sáu từ cô dạy anh nghĩ. Vì cô nói "chúng ta không chờ nữa," và "chúng ta" có hai người, nhưng phá T47 cần ba. Anh, cô, và một con dao nữa.
Tuấn có chọn không?
Anh không biết. Kiểu không biết mười ba năm: anh đọc người, nhưng Tuấn là người anh dạy đọc. Đọc trò mình dạy, kiểu đọc khó nhất, vì trò biết cách thầy đọc.
Đèn vàng T47. Phòng trống. Hai con dao đứng im, chờ.