Người Tình Của Tầng 47
Chương 80: Con dao
Chương 80

Con dao

Cô không đi.

Hai mươi giờ mười bảy. Cùng phòng, cùng đèn vàng, cùng bàn gỗ sồi trống. Cô ngồi – ghế cuối bàn, kiểu ngồi chưa đứng dậy sau "cha xây, cha phá, cha chết." Anh đứng – tường Đông, kiểu đứng chưa dời. Giữa – im lặng, kiểu im lặng mười bốn phút (anh đếm, kiểu đếm anh luyện từ nhỏ: thời gian im lặng của người khác cho anh biết mức độ tổn thương).

Cô nhìn anh – và nói:

– Kể tiếp.

Hai từ. Kiểu hai từ cô dùng: không hỏi, yêu cầu. Anh biết "kể tiếp" = kể về anh, không phải cha cô, không phải T47. Kể – kiểu kể cô chưa bao giờ yêu cầu trực tiếp: về anh, từ đầu.

Anh nhìn tường Đông – ô vuông nhạt, lỗ đinh. Rồi nhìn cô.


Hai ngàn không trăm linh năm. Trại – anh không nhớ tên. Nhớ – mùi: ẩm, kiểu ẩm bê tông cũ, kiểu ẩm giặt không kịp khô. Nhớ – tiếng: trẻ con khóc ban đêm, kiểu khóc đều, kiểu khóc không ai dỗ. Nhớ – tay: tay bảo mẫu đánh đầu, kiểu đánh không mạnh (không đủ mạnh để gây thương), kiểu đánh bực (kiểu bực người lớn dùng khi trẻ con không nghe).

Anh – sáu tuổi. Không biết cha mẹ (không có hồ sơ, kiểu không có hồ sơ trại lập từ đầu: "Trần Quân Phong" là tên trại đặt, kiểu tên đặt bốn chữ cho đứa không có họ). Không khóc – kiểu không khóc từ khi biết khóc: không phải dũng cảm, không phải mạnh. Không có gì để khóc cho. Kiểu không – trống, kiểu trống sáu tuổi.

Đình Viễn đến – chiều, kiểu chiều mùa khô Sài Gòn. Xe đen (kiểu xe đen anh thấy mười ba năm sau: sedan, biển giả, kiểu xe chở ông ta đi nơi ông ta không muốn bị thấy). Vest – kiểu vest ba mươi năm, kiểu vest anh biết sẽ mặc suốt đời. Ông ta – vào trại, nói chuyện với giám đốc (mười lăm phút, cửa đóng), rồi ra sân – nhìn trẻ.

Mười bốn đứa – sân bê tông, chiều. Anh nhớ – mười bốn vì anh đếm. Kiểu đếm sáu tuổi: đếm vì không có gì khác làm.

Ông ta đi – dọc sân, nhìn từng đứa. Kiểu nhìn anh biết sau này: nhìn bàn cờ, kiểu nhìn chọn quân. Đến anh – đứng cuối sân, cạnh tường, kiểu đứng anh dùng từ nhỏ: góc, tường, kiểu góc ít người đến.

Ông ta nhìn. Anh nhìn lại – kiểu nhìn sáu tuổi, kiểu nhìn không cúi (không phải dũng cảm, không biết phải cúi).

– Thằng này bị đánh mà không khóc. Giám đốc trại nói. Đứng sau ông ta, kiểu đứng sau người cho tiền. – Cứng lắm. Đánh mấy cũng không khóc.

Ông ta nhìn anh – lâu hơn mười ba đứa còn lại cộng lại. Rồi nói – kiểu nói anh nhớ từng từ, mười sáu năm, kiểu nhớ câu đầu tiên người ta nói với mình trước khi đời thay đổi:

– Không phải cứng. Chỉ là không có gì để mất.

Bảy từ. Ông ta nói – giám đốc trại, không phải anh. Nhưng anh nghe. Sáu tuổi – nghe, kiểu nghe không hiểu nhưng nhớ. Hai mươi năm sau – hiểu.

Không có gì để mất = không sợ mất = kiểm soát được. Kiểu kiểm soát Đình Viễn cần: con dao không sợ cùn, vì không biết mình là dao.

Ông ta ký – giấy, kiểu giấy nhận nuôi anh không đọc được vì sáu tuổi. Và – xe đen, biệt thự, phòng riêng (phòng đầu tiên anh có một mình, kiểu phòng đầu tiên không có mười ba đứa khác). Anh không biết vui – kiểu không biết vui sáu tuổi: không có cái gì trước để so sánh.


– Ông ấy dạy tôi mọi thứ. Anh nói. Giọng – đều, kiểu đều anh giữ mười ba năm T47. – Quản lý. Tài chính. Tâm lý – kiểu tâm lý đọc người: ai sợ gì, ai muốn gì, ai che giấu gì. Và – "xử lý."

Cô nghe. Không nói.

– Không có tình thương. Anh nói. – Kiểu không có mà tôi không biết thiếu vì chưa bao giờ có. Ông ấy không đánh – kiểu không đánh vì không cần: ông ấy dùng im lặng. Kiểu im lặng – nếu tôi sai: ông ấy không nhìn tôi ba ngày. Kiểu ba ngày – đối với đứa trẻ không có ai ngoài ông ấy: ba ngày = không tồn tại.

Cô nghe – và anh thấy tay cô trên bàn siết nhẹ. Kiểu siết – kiểu siết cô dùng khi giận mà không nói.

– Tôi học nhanh. Anh nói. – Kiểu nhanh ông ấy cần: mười hai tuổi đọc báo cáo tài chính, mười bốn phân tích hồ sơ nhân sự, mười sáu ngồi phòng họp (phía sau ông ấy, kiểu ngồi phía sau mười ba năm). Mười tám – ông ấy giao tôi công việc đầu tiên: theo dõi nhân viên cấp cao nghi rò rỉ. Tôi tìm ra trong hai ngày. Ông ấy – gật, kiểu gật không khen: gật = hoàn thành, kiểu hoàn thành cần phải, không phải giỏi.

– Hai mươi mốt. Anh nói. – Ông ấy giao tôi internal-ops-07. Mã – kiểu mã cha em xây (hệ thống email nội bộ, cô biết). IO-07 trước tôi – ai đó tôi không biết tên, không biết mặt. Ông ấy nói: "Từ hôm nay, con là 07." Kiểu "là" – kiểu "là" không phải đại diện, không phải quản lý. "Là" – kiểu trở thành, kiểu mất tên, kiểu dao không cần tên.

Im lặng – ba giây.

– Hai ngàn mười hai. Anh nói. – Tôi mười bảy. Lần đầu đến Aeternum. Lần đầu – gặp cha em.

Cô nghe – biết rồi (anh kể nãy: "nó còn nhỏ"). Nhưng – lần này, kiểu kể khác. Lần trước – kể lịch sử T47. Lần này – kể lịch sử anh.

– Cha em nhìn tôi – hành lang T47. Anh nói. – Và – tuần sau, cha em đến biệt thự. Anh dừng. – Không ai đến biệt thự ngoài ông ấy. Bảo vệ không cho. Nhưng – cha em đến, kiểu đến không hỏi phép: bấm chuông, đợi, vào. Ông ấy không ở nhà (họp hội đồng quản trị). Cha em – ngồi phòng khách, đợi tôi. Tôi xuống – thấy người lạ, kiểu người lạ ngồi sofa biệt thự mà không ai mời.

Anh dừng.

– Cha em hỏi: "Mày ăn cơm chưa?" Anh nói. Giọng – vỡ nửa âm tiết ở "cơm", kiểu vỡ anh không kiểm soát, kiểu vỡ mười sáu năm: lần đầu ai hỏi đứa trẻ mười bảy câu đó.

Im lặng – năm giây. Anh giữ – kiểu giữ mặt, kiểu giữ mười ba năm. Nhưng – "cơm" vẫn vỡ, kiểu vỡ không sửa được.

– Cha em mang cơm. Anh nói. – Hộp nhựa, cơm trắng, thịt kho, canh bầu. Kiểu cơm – kiểu cơm nhà, kiểu cơm tôi chưa bao giờ ăn (biệt thự có đầu bếp, nhưng đầu bếp nấu cho ông ấy, tôi ăn phần còn). Cha em – ngồi đối diện, nhìn tôi ăn. Không nói. Kiểu nhìn – kiểu nhìn người thấy đứa trẻ đói mà không biết đói.

Cô – anh nhìn: tay cô trên bàn, siết, kiểu siết trắng đốt ngón, kiểu siết nãy ở đại hội khi anh nắm dưới bàn. Mắt cô – khô (vẫn khô, kiểu khô mười sáu tuần). Nhưng – hàm, cơ hàm, kiểu căng cơ hàm người cắn để không vỡ.

– Cha em đến mỗi thứ Bảy. Anh nói. – Bốn năm – hai ngàn mười hai đến hai ngàn mười sáu. Mỗi thứ Bảy: cơm hộp, ngồi đối diện, không nói nhiều. Hỏi – "học gì tuần này?" Tôi kể – kiểu kể đứa mười bảy kể người lớn: tài chính, nhân sự, "xử lý." Cha em – nghe, kiểu nghe không phán xét (kiểu nghe khác ông ấy: ông ấy nghe để đánh giá, cha em nghe để biết).

– Cha em dạy tôi cờ vua. Anh nói. – Kiểu dạy cha em dùng (cô biết, USB thư: "dạy bằng cờ để hiểu"). Không phải dạy chiến thuật – dạy nhìn: "mỗi quân cờ có giá trị khác nhau, nhưng không quân nào đáng bị hy sinh vì trò chơi." Kiểu dạy – kiểu dạy anh hiểu mười năm sau: cha em không dạy anh chơi cờ, cha em dạy anh nghĩ khác ông ấy.

Im lặng – bốn giây.

– Đình Viễn biết. Anh nói. – Biết cha em đến biệt thự mỗi thứ Bảy. Biết – kiểu biết ông ấy biết mọi thứ: camera biệt thự, bảo vệ báo, kiểu biết ba mươi năm. Ông ấy – không cấm (lúc đầu). Vì – cha em vẫn ở trong hệ thống, vẫn im, vẫn chưa tố cáo. Kiểu im – kiểu im ông ấy nghĩ là sợ. Nhưng – hai ngàn mười lăm, ông ấy nhận ra: cha em không sợ. Cha em – đang thay đổi tôi.

Anh dừng. Nhìn tường – kiểu nhìn mười ba năm.

– Kiểu thay đổi – ông ấy nhìn vào mắt tôi tối thứ Hai (sau thứ Bảy cha em đến) và thấy: tôi hỏi. Kiểu hỏi – không hỏi bằng miệng (tôi không bao giờ hỏi ông ấy), hỏi bằng mắt: tại sao? Kiểu "tại sao" đứa mười chín bắt đầu hỏi khi cha em dạy nhìn quân cờ khác. Ông ấy – thấy "tại sao" trong mắt tôi và biết: cha em đang phá con dao ông ấy rèn.

– Kiểu phá – không phải phá hỏng. Anh nói. – Phá – kiểu biến dao thành người. Kiểu biến ông ấy ghét nhất: dao có câu hỏi = dao không chém được, dao biết đau = dao không dùng được.

Im lặng – ba giây.

– Hai ngàn mười sáu. Anh nói. – Ông ấy giao tôi lệnh: "Xử lý Lâm Hữu Đức."

Cô nghe – biết rồi (anh vừa kể nãy). Nhưng – lần này, kiểu kể khác.

– Tôi ngồi – văn phòng T47, hai mươi ba tuổi, mã IO-07 trên màn hình. Anh nói. – Lệnh – trên hệ thống, kiểu lệnh tôi xử lý mười bảy vụ trước đó (năm chuyển giao, mười hai "xử lý" dưới quyền ông ấy, trong đó tôi ký năm, bảy do ông ấy trực tiếp). Nhưng – lần này: Lâm Hữu Đức. Người mang cơm mỗi thứ Bảy bốn năm. Người dạy cờ. Người nói "nó còn nhỏ."

Anh dừng. Hít – kiểu hít anh không để ai thấy: sâu, chậm, kiểu sâu giữ.

– Tôi đề xuất phương án A. Anh nói. – Chuyển giao. Sa thải, tái định cư, tên mới. Kiểu cứu – kiểu cứu duy nhất trong hệ thống. Ông ấy – đọc đề xuất, kiểu đọc ba giây (ông ấy đọc nhanh, kiểu nhanh ba mươi năm). Rồi: "Không."

– Tôi nói: "Phương án A hiệu quả hơn. Không để lại dấu vết." Anh nói. – Kiểu nói – kiểu nói tôi học từ ông ấy: logic, không cảm xúc, kiểu logic dao dùng để thuyết phục tay cầm. Ông ấy – nhìn tôi. Lâu – kiểu lâu ông ấy dùng khi biết ai đó đang nói dối. Rồi:

– "Con muốn cứu nó."

– Không hỏi. Anh nói. – Khẳng định. Ông ấy nhìn vào mắt tôi – và thấy: "tại sao." Kiểu "tại sao" cha em gieo bốn năm thứ Bảy. Kiểu "tại sao" ông ấy biết là cha em, không phải tôi.

– Ông ấy nói: "Đức phá con." Anh lặp lại. – Bốn từ. Kiểu bốn từ ông ấy nói đều, không giận (ông ấy không giận – giận = mất kiểm soát = không bao giờ). Bốn từ – kiểu bốn từ = lý do giết cha em: không phải vì cha em ghi, không phải vì cha em biết. Vì cha em dạy con dao biết hỏi "tại sao."

Im lặng. Cô – ngồi, tay siết bàn, mắt khô, hàm căng. Anh – đứng, tường Đông. Mười bảy phút từ khi cô nói "kể tiếp."

– Ông ấy tạo ra tôi. Anh nói. Chậm – kiểu chậm kết luận. – Năm tôi sáu tuổi – ông ấy đến trại, nhìn mười bốn đứa trẻ, chọn đứa không khóc khi bị đánh. Rèn – mười hai năm. Dao – kiểu dao hoàn hảo ông ấy cần: không sợ, không hỏi, không yêu. Và – dao thay thế.

Dừng.

– Thay thế cha em. Anh nói. – Trong T47. Trong hệ thống. Cha em – xây hệ thống rồi muốn phá. Ông ấy cần người khác vận hành. Tôi – được tạo ra để thay cha em. Kiểu thay thế – kiểu thay thế ông ấy nghĩ: cùng vị trí, cùng quyền, cùng mã. IO-07 trước cha em xây. IO-07 sau – tôi.

Anh nhìn cô.

– Tôi là phiên bản thay thế cha em. Anh nói. – Trong hệ thống giết người mà cha em xây.

Im lặng.

Lâu – kiểu lâu anh đếm: mười giây, hai mươi, ba mươi, bốn mươi. Cô ngồi – không động, kiểu không động đá, kiểu không động người nghe thứ vừa phá vỡ cách nhìn mười sáu tuần. Tay – vẫn siết bàn. Mắt – vẫn khô. Hàm – vẫn căng.

Rồi – bốn mươi ba giây – cô nhìn lên. Nhìn anh – đèn vàng T47, tường trống, ô vuông nhạt. Anh đứng – kiểu đứng mười ba năm, kiểu đứng dao cắm vào tường chờ bị nhổ.

Cô nói – và giọng cô, kiểu giọng anh chưa nghe mười sáu tuần. Không đều (kiểu đều cô giữ). Không run (kiểu run "tôi biết" đêm phòng kỹ thuật). Kiểu giọng – thấp hơn bình thường nửa tông, kiểu thấp người dùng khi nói thứ tin hoàn toàn:

– Anh không phải phiên bản thay thế.

Dừng. Một giây.

– Anh là người cha tôi chọn để gửi gắm.

Anh nghe – và đứng, kiểu đứng tường Đông mười ba năm. Mười hai từ. Kiểu mười hai từ – cô nói, và anh nghe, và phòng chứng cứ trống T47 đèn vàng.

Người cha tôi chọn. Anh nghe – lặp trong đầu: chọn, kiểu chọn khác tạo. Đình Viễn tạo anh – sáu tuổi, trại mồ côi, "mắt không khóc." Cha cô chọn anh – mười bảy tuổi, hành lang T47, "nó còn nhỏ." Hai người – cùng nhìn đứa trẻ, chọn khác nhau. Một người chọn dao. Một người chọn người.

Cô – mắt khô, kiểu khô mười sáu tuần. Nhưng – trên bàn, giữa hai tay siết: một giọt. Kiểu giọt – không từ mắt (mắt khô), từ đâu? Từ – tay: ngón tay siết trắng bàn gỗ sồi, máu tụ dưới da, đau không biết, kiểu đau cô không nhận ra vì đang nhìn anh. Và – một giọt, trên gỗ sồi, kiểu giọt không phải nước mắt, kiểu giọt mồ hôi tay siết quá chặt.

Nhưng – mắt cô. Anh nhìn: khô, vẫn khô. Mười sáu tuần khô. Mười năm khô. Kiểu khô – cô luyện từ đám tang cha.

Rồi – một giọt. Mắt phải. Chảy – má, kiểu chảy không lau, kiểu chảy cô không biết (hoặc biết nhưng không lau, kiểu không lau = cho phép). Một giọt – kiểu một giọt mười năm.

Cô không nói. Anh không nói. Giọt – chảy qua má, đến cằm, rơi, kiểu rơi trên gỗ sồi bàn phòng chứng cứ T47, cạnh vệt mồ hôi tay.

Người cha tôi chọn để gửi gắm.

Anh đứng – tường Đông, mười ba năm, phòng trống. Và – lần đầu mười ba năm đứng phòng này: anh không nhìn tường. Anh nhìn cô.

Con gái ông. Giọt nước mắt đầu tiên mười năm. Trên bàn cha cô từng ngồi.

Ch.80/80
2.683 từ