Camera analog
Hai mươi giờ bốn mươi ba. Chủ Nhật. Căn hộ.
Cô ngồi – sàn phòng khách, máy tính cá nhân trên bàn trà (không kết nối mạng, không bật wifi, kiểu mở máy cô dùng từ tuần mười hai: ngoại tuyến hoàn toàn). Rèm – đóng. Đèn bàn – bật, thấp, kiểu đèn đủ nhìn màn hình mà không phản chiếu qua cửa sổ.
Thẻ nhớ – cắm đầu đọc, đầu đọc cắm máy. Mười một giga dữ liệu, bảy ngày ghi hình, chất lượng thấp. Cô mở – trình chiếu phương tiện, không cần phần mềm chuyên dụng (thẻ nhớ ghi định dạng chuẩn, kiểu định dạng thiết bị cũ: nén đơn giản, độ phân giải ba trăm hai mươi nhân hai trăm bốn mươi điểm ảnh). Hình – đen trắng, hạt, kiểu hạt phim cũ mà cô nhìn mười sáu tuần qua trên mười hai màn hình T47 thì khác: sắc, màu, rõ. Đây – mờ, kiểu mờ hai mươi năm.
Cô cuộn – tua, tìm. Dấu thời gian – góc trái dưới, chữ trắng trên nền đen: giờ:phút:giây, kiểu giờ không chính xác tuyệt đối (đồng hồ nội bộ thiết bị, có thể lệch vài phút so với đồng hồ tòa nhà). Cô tìm – đêm thứ Năm, khoảng hai mươi mốt giờ bốn mươi bảy (mất điện).
Tìm được: hai mươi mốt giờ bốn mươi ba theo đồng hồ thiết bị (lệch bốn phút – hợp lý cho thiết bị cũ không đồng bộ). Hình – hành lang B2, bê tông trần, đèn ống trắng. Bình thường – hành lang trống, kiểu trống B2 ban đêm: không ai, không chuyển động, đèn sáng.
Hai mươi mốt giờ bốn mươi ba – đèn tắt. Đột ngột – trắng thành đen, kiểu đen toàn bộ. Mất điện. Thiết bị – vẫn ghi (pin riêng), nhưng hành lang tối, hình đen hoàn toàn. Hai giây – ba giây – bốn. Rồi: đèn khẩn cấp đỏ bật (pin lithium, hệ thống riêng). Hành lang B2 – đỏ mờ, kiểu đỏ cô nhớ: đỏ đêm thứ Năm, đỏ cầu thang, đỏ T38. Hình – đỏ mờ, hạt nhiều hơn (thiết bị cũ không có hồng ngoại, chỉ thu ánh sáng khả kiến, mà đỏ mờ = ít khả kiến).
Cô tua – chậm, từng phút. Hai mươi mốt giờ bốn mươi lăm – hành lang trống, đỏ. Năm mươi – trống. Năm mươi lăm – trống. Hai mươi hai giờ – trống. Lẻ năm – trống.
Hai mươi hai giờ mười – chuyển động.
Cô dừng. Tua lại – hai mươi hai giờ mười, dấu thời gian thiết bị. Hành lang B2, đỏ mờ. Và – từ hướng cầu thang (phải khung hình): bóng người.
Cô nhìn – màn hình, đèn bàn thấp, sàn phòng khách. Bóng – di chuyển từ phải sang trái, hướng bốn phòng kỹ thuật. Đen – kiểu đen bóng người trong đỏ mờ, không thấy mặt (thiết bị cũ, độ phân giải thấp, ánh sáng yếu). Nhưng thấy: dáng, kiểu dáng cô ghi nhận.
Dáng – thẳng, lưng thẳng, vai vuông, kiểu thẳng của người không cúi khi đi trong tối (kiểu thẳng biết đường, biết hành lang, không cần nhìn chân). Chiều cao – ước tính so với ống thông gió trên trần (sáu mươi xăng-ti-mét đường kính, cách sàn khoảng hai mét bốn mươi): bóng người đỉnh đầu dưới ống khoảng hai mươi xăng-ti-mét. Chiều cao – khoảng một mét bảy mươi, có thể bảy mươi hai. Cân nặng – gầy, kiểu gầy thấy rõ dù bóng đen: vai hẹp, eo hẹp, chân mảnh.
Giày – đen, kiểu giày da, phản chiếu nhẹ ánh đỏ khi bước (da bóng, kiểu bóng giày da mới hoặc giày da đánh thường xuyên). Bước – đều, kiểu đều không vội, kiểu đều của người đi tuần tra, kiểu đều cô biết.
Tuấn.
Cô nghĩ – và dừng. Không vội. Kiểu không vội mười sáu tuần: nhận ra rồi kiểm tra lại, kiểu kiểm tra cô dùng từ khi phát hiện cha bị xóa khỏi hệ thống. Nhận ra – không đủ, cần chắc.
Cô tua lại – hai mươi hai giờ mười. Xem – lần hai. Dáng: thẳng, vai vuông, gầy. Chiều cao: một mét bảy mươi đến bảy mươi hai. Giày: da đen, bóng. Bước: đều, không vội.
Tuấn – hai mươi bảy tuổi, gầy, tóc ngắn, sơ mi trắng cài khuy cổ. Giày da đen – mười ba năm, kiểu giày Tuấn mang mà anh nhắc (anh nhìn giày Tuấn ở cầu thang T45 đêm mất điện: "giày da đen, kiểu giày Tuấn mang mười ba năm"). Dáng thẳng – kiểu đứng Tuấn, kiểu đi Tuấn, cô biết từ hai lần gặp: T47 đêm đầu tiên (bóng người hành lang gỗ sồi) và T45 đêm mất điện (anh mô tả). Chiều cao – khớp.
Không phải anh – anh một mét tám mốt (cô biết vì đứng cạnh anh trong bếp T46, vai anh ngang đỉnh đầu cô, cô một mét sáu mươi ba). Bóng người này thấp hơn anh gần mười xăng-ti-mét.
Không phải Đình Viễn – sáu mươi lăm tuổi, nặng hơn (anh mô tả: "ông ấy không gầy, kiểu không gầy của người sáu mươi lăm ăn tối mỗi ngày ở nhà hàng T50").
Cô xem – tiếp. Bóng người đi dọc hành lang, đến B2-KT-03. Dừng – cửa. Tay – đưa lên, kiểu đưa tay quẹt thẻ (nhưng ánh đỏ mờ, không thấy rõ thẻ). Cửa – mở (kiểu mở fail-safe đã mở sẵn khi mất điện, nhưng bóng người vẫn quẹt – thói quen, hoặc đầu đọc B2 có lưu điện riêng). Bóng người – vào.
Dấu thời gian: hai mươi hai giờ mười bốn.
Cô tua – tiếp. Hai mươi hai giờ mười bốn: bóng người vào B2-KT-03. Hành lang – trống lại. Hai mươi hai giờ mười lăm – trống. Mười sáu – trống. Mười bảy – hình bắt đầu nhấp nháy, kiểu nhấp nháy thiết bị cũ: pin giảm, tần số ghi giảm (từ liên tục sang mỗi năm giây một khung hình). Hai mươi hai giờ mười tám – hình mờ hơn, hạt dày hơn, kiểu mờ của pin dưới mười phần trăm. Hai mươi hai giờ hai mươi – bóng người ra khỏi B2-KT-03. Nhưng – mờ, kiểu mờ không nhận dạng được: chỉ thấy bóng đen di chuyển từ trái sang phải, hướng cầu thang. Sáu phút – bóng người ở trong B2-KT-03 sáu phút.
Hai mươi hai giờ hai mươi hai – hình tắt. Pin hết.
Cô ngồi – sàn, máy tính, màn hình đen (video kết thúc). Rèm đóng, đèn bàn thấp. Và – trong đầu, kiểu trong đầu cô dùng mười sáu tuần: xếp.
Tuấn mở B2-KT-03 lúc hai mươi hai giờ mười bốn. Sáu phút bên trong. Bên trong – Hùng, nằm nghiêng, mười bốn ngày, sơ mi vàng. Tuấn – ở trong phòng với Hùng sáu phút. Làm gì?
Kiểm tra – kiểu kiểm tra an ninh (Tuấn là an ninh T47, tuần tra là nhiệm vụ)? Nhưng – tại sao kiểm tra phòng kỹ thuật B2 đêm mất điện? Tuấn đang ở T47 (anh gặp Tuấn T45), tại sao xuống B2?
Mở cửa – để Hùng được phát hiện? Cửa fail-safe đã mở sẵn khi mất điện. Nhưng – fail-safe mở không có nghĩa ai biết Hùng ở đó. Tuấn mở = Tuấn biết Hùng ở đó. Biết từ bao giờ? Biết – và im mười bốn ngày?
Hoặc – Tuấn mở cho ai đó vào. Mã 049 quẹt B2 lúc hai mươi hai giờ lẻ ba (anh nói từ nhật ký đầu đọc, dòng năm mươi Tuấn ghi). Mười một phút sau – Tuấn đến. Ai đó dùng thẻ Đình Viễn vào trước, Tuấn đến sau. Kiểu đến – kiểm tra cho ai đó, hoặc hoàn tất cho ai đó, hoặc dọn dẹp cho ai đó.
Sáu phút. Cô nghĩ. Sáu phút trong phòng với người chết mười bốn ngày. Đủ để làm gì?
Đủ để – kiểm tra xem Hùng còn sống không. Đủ để – xác nhận Hùng chết. Đủ để – lấy thứ gì đó trên người Hùng (thẻ, điện thoại, giấy tờ). Hoặc đủ để – để lại thứ gì đó (kiểu để lại cô biết: Aeternum để lại "bằng chứng" giả – đơn xin nghỉ, email "tự nguyện").
Cô với – điện thoại. Sáu mươi bảy phần trăm pin. Gọi – số anh (số cô lưu từ tuần mười bốn, lần đầu gọi anh ngoài Aeternum là tối thứ Ba trước đêm mất điện).
Đổ chuông – ba lần. Bốn. Năm. Sáu.
— Tôi nghe.
Giọng anh – kiểu giọng cô biết: đều, kiểu đều mười ba năm, kiểu đều không thay đổi dù nửa đêm hay giữa trưa. Nhưng – sáu chuông (bình thường anh bắt chuông hai hoặc ba). Chậm hơn – kiểu chậm cô chưa nghe.
— Bản ghi thiết bị cũ B2. Cô nói. Nhẹ – kiểu nhẹ gọi ngoài Aeternum, kiểu nhẹ cô dùng từ khi biết sóng điện thoại không an toàn nhưng không có lựa chọn khác. – Tôi xem xong.
Im lặng – hai giây. Anh nghe – kiểu nghe anh dùng khi cần biết trước khi nói.
— Ai.
Một từ. Không hỏi – yêu cầu.
— Tuấn.
Im lặng. Dài hơn – bốn giây, năm, sáu. Kiểu im cô chưa nghe từ anh: không phải im suy nghĩ (hai giây), không phải im cân nhắc (ba giây). Im – sáu giây, kiểu im của người nghe thứ không ngờ.
— Chắc. Anh nói. Không hỏi – kiểm tra.
— Dáng đi, chiều cao, giày da. Cô nói. – Một mét bảy mươi đến bảy mươi hai. Gầy. Vai vuông, lưng thẳng. Bước đều, không vội. Mở B2-KT-03 lúc hai mươi hai giờ mười bốn. Sáu phút bên trong. Ra – hai mươi hai giờ hai mươi. Sau đó thiết bị hết pin.
Im lặng – ba giây.
— Hai mươi hai giờ mười bốn. Anh nói. Chậm – kiểu chậm đang tính. – Mã 049 quẹt B2 hai mươi hai giờ lẻ ba. Mười một phút trước Tuấn.
— Hai người. Cô nói. – Ai đó dùng thẻ Đình Viễn vào B2 trước. Tuấn đến sau.
Im lặng. Anh – kiểu im cô hiểu: anh đang xếp lại mười ba năm với Tuấn. Mười ba năm – Tuấn ghi sổ, Tuấn đứng cửa, Tuấn báo cáo. Bốn mươi chín dòng vi phạm, mỗi dòng một sự kiện, mỗi sự kiện Tuấn ghi. Tuấn – con dao thứ hai Đình Viễn rèn, kiểu dao anh biết nhưng không ngờ dao cũng có ý riêng.
— Tuấn biết Hùng ở B2. Cô nói. – Biết từ trước đêm mất điện. Và – im.
— Tuấn không làm gì mà không có lý do.
Giọng anh – đều, nhưng kiểu đều mỏng hơn: lớp đều bọc thứ gì đó anh không nói. Cô nghe – và hiểu: anh không giận (giận = cảm xúc, anh không), anh đang đánh giá lại. Mười ba năm đánh giá Tuấn – mười ba năm Tuấn ghi sổ, mười ba năm anh nghĩ Tuấn là sổ. Bây giờ – Tuấn ở B2 đêm mất điện, sáu phút với Hùng, và anh không biết.
— Tại sao. Cô nói. Không hỏi – suy luận. – Tuấn mở cửa phòng giam một người chết mười bốn ngày. Hai khả năng.
— Nói.
— Một: Tuấn mở để Hùng được phát hiện. Cô nói. – Khi điện phục hồi, bảo vệ tuần tra, cửa B2-KT-03 mở, mùi, phát hiện. Hùng chết trong tòa nhà = cảnh sát, báo chí, áp lực. Tuấn muốn Đình Viễn vào thế – kiểu thế cổ đông chết trong tòa nhà mình xây, hai ngày trước đại hội. Tuấn ép Đình Viễn bằng xác Hùng.
Im lặng – hai giây.
— Hai. Cô nói. – Tuấn mở cho ai đó đã vào trước. Mã 049 – mười một phút trước Tuấn. Ai đó vào, Tuấn đến sau – kiểm tra, hoàn tất, hoặc dọn. Sáu phút – đủ để xác nhận Hùng chết và lấy thứ gì đó trên người Hùng.
Im lặng – dài hơn. Bảy giây.
— Khả năng một hợp lý hơn. Anh nói. – Tuấn ghi bốn mươi chín dòng vi phạm của tôi. Tuấn báo Đình Viễn mỗi thứ Hai. Tuấn – đang chơi bài riêng, từ lâu. Dòng bốn mươi chín – Tuấn nói sổ "chỉ còn giá trị với anh." Kiểu nói = kiểu chọn.
Cô nghe. Tuấn chọn phe – kiểu chọn Tuấn, kiểu chọn cô biết từ đêm mất điện: Tuấn ngồi cầu thang T45 chờ anh, Tuấn nói "phòng chứng cứ trống", Tuấn ghi dòng bốn mươi chín (dài nhất), Tuấn tiết lộ mã 049. Mỗi bước – Tuấn cho anh thông tin. Nhưng – Tuấn không nói anh về B2, không nói anh về sáu phút, không nói anh Tuấn biết Hùng ở đó.
— Tuấn cho anh thông tin có chọn lọc. Cô nói. – Mã 049 – cho anh biết. Bản thân Tuấn ở B2 – không.
Im lặng. Rồi:
— Tuấn ghi bốn mươi chín dòng vi phạm của tôi.
Anh dừng. Cô chờ – kiểu chờ cô dùng với anh: không lấp, không giục, chờ.
— Nhưng tôi chưa bao giờ ghi của Tuấn.
Cô nghe – và hiểu: mười ba năm, anh ghi mọi thứ (ổ cứng, bìa hồ sơ, nhật ký, tường phòng chứng cứ). Nhưng – không ghi Tuấn. Vì không ngờ phải. Tuấn – sổ, Tuấn – ghi, Tuấn – đứng cửa. Kiểu Tuấn anh nghĩ = kiểu Tuấn không cần ghi. Bây giờ – Tuấn ở B2 sáu phút, và anh không có dòng nào.
— Hai ngày. Cô nói.
— Hai ngày. Anh nói.
Hai ngày – đại hội thứ Ba. Chứng cứ gốc mất. Minh Khang mất. Tuấn – ai đó có bài riêng mà anh không biết. Cô – ổ cứng bản sao trong túi, thẻ nhớ thiết bị cũ trong túi, thanh nhớ sao chép trong túi. Phúc – Bình Dương, sẽ đến. Luật sư – có bản sao Khang gửi. Nhà báo Tú – có bản sao.
— Tôi giữ bản ghi thiết bị cũ. Cô nói. – Bản gốc và bản sao. Tuấn trên bản ghi – bằng chứng.
— Giữ. Anh nói. – Đừng cho ai biết cô có.
Đừng cho ai biết. Cô nghĩ. Ai – bao gồm Tuấn. Tuấn biết thiết bị cũ B2 tồn tại (Trung biết, Tuấn – an ninh T47, kiểu an ninh biết mọi thiết bị tòa nhà). Nếu Tuấn biết cô lấy thẻ nhớ – Tuấn biết cô có bản ghi, Tuấn biết cô thấy Tuấn ở B2. Và – Tuấn sẽ phản ứng, kiểu phản ứng cô không đoán được vì mười sáu tuần cô không đoán được Tuấn.
— Anh tin Tuấn không. Cô nói.
Im lặng – năm giây. Lâu – kiểu lâu của câu hỏi anh không có câu trả lời mười ba năm.
— Tôi tin Tuấn có lý do. Anh nói. – Tôi không biết lý do đó có giống lý do của tôi.
Cô nghe – và hiểu: anh tin Tuấn không ngẫu nhiên, không vô mục đích. Tuấn – kiểu người làm mọi thứ có tính toán (sổ bốn mươi chín dòng = tính toán, báo Đình Viễn mỗi thứ Hai = tính toán, để sổ trên bàn anh = tính toán). Nhưng – tính toán cho ai? Cho Đình Viễn (kiểu con dao trung thành)? Cho anh (kiểu đồng minh muộn)? Hay cho chính Tuấn (kiểu người có em gái bảy tuổi mà Đình Viễn trả học phí)?
Em gái bảy tuổi. Cô nghĩ. Nguyễn Đình Hà, trường nội trú, hai trăm tám mươi triệu mỗi năm, Đình Viễn phê duyệt. Tuấn – con tin bằng em gái, kiểu con tin Đình Viễn dùng: không đe dọa trực tiếp, trả học phí, kiểu trả mà ai cũng hiểu nếu ngừng trả thì sao.
— Hai ngày. Cô nói. Lần thứ hai – kiểu lần thứ hai của người đếm ngược. – Tôi sẽ ở đại hội.
— Cô không nên ở đại hội.
— Tôi sẽ ở đại hội. Cô nói. Không lặp – khẳng định, kiểu khẳng định mười sáu tuần: cô không hỏi ý kiến, cô nói.
Im lặng – hai giây. Rồi:
— Tôi biết.
Hai từ. Anh nói – kiểu nói cô nghe từ bếp T46: chấp nhận, không phản đối, kiểu chấp nhận của người biết cô sẽ đến dù anh nói gì. Kiểu biết – mười sáu tuần, kiểu biết cô leo mười sáu tầng trong tối.
Cô cúp – điện thoại, màn hình tắt. Căn hộ – tối (đèn bàn thấp), rèm đóng, Sài Gòn Chủ Nhật tối ngoài cửa sổ. Máy tính – vẫn mở, màn hình đen (video kết thúc).
Cô nhìn – máy tính, thẻ nhớ cắm đầu đọc, kiểu nhìn mười sáu tuần khi kết thúc một bước: ghi nhận, kiểm kê, tiếp.
Tuấn mở B2-KT-03 đêm mất điện. Sáu phút. Hùng chết bên trong. Tuấn biết – và im. Tuấn cho anh thông tin có chọn lọc – mã 049 nhưng không nói bản thân. Tuấn ghi bốn mươi chín dòng vi phạm của anh – nhưng anh không ghi dòng nào của Tuấn.
Sổ bốn mươi chín dòng. Cô nghĩ. Bốn mươi chín dòng vi phạm – vũ khí. Nếu Tuấn đưa Đình Viễn – anh chết. Nếu Tuấn đưa kiểm toán – Đình Viễn chết. Nếu Tuấn giữ – cả hai sống, và Tuấn là người giữ chìa.
Tuấn – không phải sổ. Tuấn – người giữ sổ. Và người giữ sổ – kiểu người cô chưa hiểu, kiểu người anh chưa hiểu mười ba năm.
Hai ngày. Đại hội. Và – trong túi áo khoác xám: ổ cứng (trái), thanh nhớ (phải quần), thẻ nhớ (phải áo khoác). Ba bằng chứng, ba vị trí. Và bây giờ – thêm sáu phút trên bản ghi mà chỉ cô biết.
Cô rút thẻ nhớ. Tắt máy. Đứng – đi về phía sofa (đêm sofa thứ bốn mươi hai, kiểu đêm cô không đếm nữa vì đếm = nhận ra bao lâu). Nằm – mắt mở, trần nhà, kiểu nằm mười sáu tuần.
Hai ngày.