Người Tình Của Tầng 47
Chương 72: Kính vỡ
Chương 72

Kính vỡ

Cô đứng – một phút. Hai. Quạt máy chủ kêu đều, LED xanh nhấp nháy, mùi ngọt phân hủy bốn ngày kín phòng hai mươi bốn độ. Minh Khang nằm giữa hai hàng tủ thiết bị – kính gọng mảnh vỡ một bên, sơ mi máu, ngón tay mở. Anh đứng phía sau – suit tối, tay nâu, mắt nhìn cô qua bóng tối LED.

Cô cúi – đèn pin chiếu gáy Minh Khang. Tóc đen, ngắn, gáy trắng. Và – phía sau tai trái, gần xương chẩm: lõm. Nhỏ – bốn xăng-ti-mét, kiểu nhỏ không thấy nếu không chiếu đèn trực tiếp. Da – rách, kiểu rách không có máu tươi (máu đã đông từ lâu, khô nâu viền quanh). Tóc quanh vết – dính bết, kiểu bết máu khô keo tóc lại.

– Vết thương sau gáy. Anh nói. Giọng – đều, kiểu đều mười ba năm. – Một lần. Vật cứng, nhỏ, nặng.

Cô nhìn – vết lõm. Bốn xăng-ti-mét. Vật cứng nhỏ nặng – thanh sắt, cờ-lê, búa nhỏ, hoặc bất kỳ thứ gì trong phòng kỹ thuật (ống thép, đầu nối, khóa tủ thiết bị). Một lần – kiểu một lần chính xác, kiểu một lần biết đánh ở đâu, kiểu một lần không phải tình cờ.

– Khang lên T47 đêm mất điện. Anh nói. – Thẻ từ Khang quẹt T38 hai mươi mốt giờ ba mươi rồi chết. Nhưng – Khang không ở T38. Khang lên đây.

Cô nghe – và xếp: Minh Khang quẹt thẻ T38 đêm mất điện (hai mươi mốt giờ ba mươi), thẻ chết. Nhưng – cửa từ mở khi mất điện (cơ chế an toàn). Minh Khang không cần thẻ để đi tiếp. Từ T38 – cầu thang kỹ thuật lên T39, T40, liên tầng, T46, T47. Vệt máu trên cầu thang – Minh Khang bị thương nhưng còn đi được.

– Khang lên lấy ổ cứng. Cô nói. Không hỏi – xếp.

– Phòng chứng cứ. Anh gật. – Khang biết vị trí mười bốn ổ cứng. Khang biết khóa ẩn tường gỗ sồi. Khang – biết vì tôi cho Khang biết.

Cô nhìn anh – qua ánh xanh nhấp nháy, qua mùi ngọt. Anh cho Minh Khang biết – kiểu cho anh dùng: tin, kiểu tin mười ba năm anh tin cha cô, kiểu tin anh cho ít người. Minh Khang biết phòng chứng cứ = Minh Khang có thể lấy. Minh Khang lấy = Minh Khang chạy, kiểu chạy Minh Khang dự định từ đêm mất điện (ba lô mất, cặp da ở lại, kiểu chạy chuẩn bị sẵn).

Nhưng – Minh Khang không chạy. Minh Khang nằm đây.

– Khang bị đánh trên đường lên. Cô nói. Chậm – kiểu chậm xếp dữ kiện thành chuỗi. – Vệt máu cầu thang T46-47. Máu – nhiều ở bậc chín, kiểu nhiều của người dừng lại, kiểu dừng vì đau hoặc vì chóng. Khang bị đánh – trước khi lên T47. T39 hoặc T40.

Cô dừng. Nhớ – đêm mất điện, anh kể: cầu thang T39, vệt máu bậc mười bốn đến mười sáu, dấu tay bám tay vịn = bị kéo lên. Hành lang T39: dấu kéo vào phòng kỹ thuật cơ điện, cửa sổ thông gió, ban công – vệt máu đến lan can, dấu hai tay bám = bị đẩy.

Không. Cô nghĩ. Dấu kéo T39 – ai đó bị kéo ra ban công và đẩy. Nhưng – Minh Khang không bị đẩy. Minh Khang ở đây, T47, không phải dưới ban công T39.

Hai vệt máu. Hai đường đi. T39 – ai đó bị kéo ra ban công. T46-47 – ai đó (Minh Khang) bị đánh nhưng tự leo lên.

– Hai người bị thương đêm mất điện. Cô nói. – Một người bị kéo ra ban công T39. Một người – Khang – bị đánh nhưng đi được, leo lên T47, đến phòng kỹ thuật, và chết ở đây.

Im lặng – ba giây. Anh nhìn cô. Rồi:

– Đúng.

Một từ. Cô nghe – và hiểu: anh cũng xếp được, kiểu xếp anh làm hai mươi phút (hoặc lâu hơn) trước khi cô đến. Hai nạn nhân đêm mất điện – một bị đẩy ban công T39 (chưa xác định), một bị đánh và chết T47 (Minh Khang).

– Ban công T39. Cô nói. – Ai.

– Tôi không biết. Anh nói. Giọng – đều, nhưng kiểu đều mỏng hơn nửa tông (kiểu mỏng cô nghe từ bếp T46: anh không nói dối, anh thật sự không biết). – Không có xác dưới tòa nhà. Tôi kiểm tra sáng hôm sau – khu vực ban công T39 hướng sân trong, mái T10. Không có gì.

Cô nghe – và nghĩ: không có xác = người bị đẩy ban công T39 không chết? Hoặc – xác bị dọn. Ban công T39 hướng sân trong – kiểu sân trong tòa nhà năm mươi tầng: kín, ít người qua, mái T10 phía dưới. Nếu ai đó rơi từ T39 xuống mái T10 – hai mươi chín tầng, kiểu hai mươi chín tầng chết. Nhưng – không có xác.

Xác bị dọn. Cô nghĩ. Hoặc – không rơi. Dấu hai tay bám lan can = bị đẩy nhưng bám được? Trèo lại?

Cô lắc – nhẹ, kiểu lắc tự mình: không đủ dữ kiện. Bỏ qua – tạm. Bây giờ – Minh Khang.

Cô cúi lại – đèn pin chiếu mặt Minh Khang. Kính vỡ. Mắt – đóng (hoặc nửa mở, kiểu nửa mở bốn ngày). Da xám. Miệng hé.

Anh Khang. Cô nghĩ – và lần này, kiểu nghĩ không phải đèn pin trắng. Kiểu nghĩ – mười sáu tuần: Americano quán Lối Nhỏ, "anh ít xấu nhất", phong bì biên bản hội đồng quản trị, Zalo cá nhân "cẩn thận", ổ cứng đưa cô tuần mười sáu ("bản sao tất cả, bảo hiểm nếu anh chết trước đại hội"). Minh Khang nói "nếu anh chết" – kiểu nói cô nghĩ là kịch tính. Không phải.

Anh nói anh không xin lỗi. Anh nói anh chọn cách nhanh nhất. Cô nhớ – T38 đêm mất điện, Minh Khang đưa ổ cứng: "Anh không xin lỗi vì đã giữ lâu. Anh chọn cách nhanh nhất để đưa cho em." Nhanh nhất – nhưng không đủ nhanh. Bốn ngày – Minh Khang nằm đây bốn ngày, kiểu bốn ngày máy chủ chạy, kiểu bốn ngày không ai tìm.

Cô đứng thẳng. Tắt – phần đó. Kiểu tắt cô dùng mười sáu tuần: cảm xúc – tắt, dữ kiện – mở. Bây giờ – dữ kiện.

– Khang lên lấy ổ cứng. Cô nói. – Phòng chứng cứ trống. Mười bốn ổ, hai mươi ba bìa, bảy thanh nhớ, ba đĩa. Khang lấy – hay ai đó khác lấy trước Khang.

– Tuấn nói phòng chứng cứ đã trống khi Tuấn đến hai mươi hai giờ lẻ năm. Anh nói. – Khang quẹt T38 hai mươi mốt giờ ba mươi. Mã 049 quẹt T38 hai mươi mốt giờ năm mươi hai – năm phút sau Khang.

Cô tính: Minh Khang quẹt T38 hai mươi mốt giờ ba mươi. Mất điện hai mươi mốt giờ bốn mươi bảy (mười bảy phút sau). Minh Khang đã ở T38 khi mất điện. Mã 049 đến T38 hai mươi mốt giờ năm mươi hai – năm phút sau mất điện. Tuấn đến T47 hai mươi hai giờ lẻ năm – phòng chứng cứ đã trống.

Giữa hai mươi mốt giờ ba mươi và hai mươi hai giờ lẻ năm – ba mươi lăm phút. Trong ba mươi lăm phút: mất điện, cửa từ tự mở, Minh Khang rời T38, mã 049 đến T38, ai đó dọn phòng chứng cứ T47, Minh Khang bị đánh (T39 hoặc T40), Minh Khang leo lên T47, Minh Khang chết phòng kỹ thuật.

Ba mươi lăm phút. Cô nghĩ. Nhiều thứ trong ba mươi lăm phút.

– Ai dọn phòng chứng cứ. Cô nói.

– Tôi không biết.

Lần thứ hai anh nói "không biết." Cô nghe – và nhận ra: hai cái "không biết" trong một đêm, kiểu hai cái "không biết" anh không dùng mười ba năm. Anh – người biết mọi thứ trong tòa nhà, mười hai màn hình, mười ba năm ghi. Bây giờ – hai cái "không biết."

– Mã 049 – thẻ dự phòng Đình Viễn. Cô nói. – 049 vào T38 năm phút sau Khang. 049 vào B2 hai mươi hai giờ lẻ ba. Tuấn vào B2 hai mươi hai giờ mười bốn. Đình Viễn – hoặc ai đó dùng thẻ Đình Viễn – theo Khang lên T38, rồi xuống B2 kiểm tra Hùng, rồi Tuấn đến B2 sau.

Anh gật – nhẹ.

– Nhưng – ai đánh Khang. Cô nói. – 049 theo Khang lên T38. Khang rời T38 đi lên. 049 – theo Khang, hay 049 ở lại T38 rồi xuống B2?

Im lặng – bốn giây. Anh nhìn – sàn, thi thể, vệt nâu. Rồi nhìn cô.

– Thời gian. Anh nói. – Khang quẹt T38 hai mươi mốt giờ ba mươi. Mất điện hai mươi mốt giờ bốn mươi bảy. 049 quẹt T38 hai mươi mốt giờ năm mươi hai. 049 quẹt B2 hai mươi hai giờ lẻ ba – mười một phút sau T38. T38 xuống B2 – thang máy chết, cầu thang kỹ thuật, khoảng tám đến mười phút. Vừa khớp.

Cô nghe – và xếp: 049 ở T38 từ hai mươi mốt giờ năm mươi hai đến khoảng hai mươi một giờ năm mươi ba (quẹt xong, làm gì đó), rồi xuống B2 (mười phút đi bộ), đến hai mươi hai giờ lẻ ba. Vừa khớp – kiểu khớp nếu 049 không dừng lại ở đâu giữa đường.

– 049 không lên T47. Cô nói. – 049 xuống B2. 049 không đánh Khang.

– Hoặc – 049 đánh Khang ở T38 rồi xuống. Anh nói. – Khang bị đánh nhưng còn đi được. Tự leo lên. Đến T47 – chết.

Cô nghĩ – kiểu nghĩ ba mươi giây không nói: 049 ở T38 có thể đánh Minh Khang rồi xuống B2. Minh Khang bị thương – vết lõm sau gáy, chảy máu, nhưng còn ý thức. Tự leo cầu thang kỹ thuật từ T38 lên T47 – bảy tầng, kiểu bảy tầng chảy máu, kiểu bảy tầng vệt máu mỗi vài bậc. Đến T47 – vào phòng kỹ thuật (gần nhất, cửa mở khi mất điện), ngã.

Minh Khang không đến được phòng chứng cứ. Cô nghĩ. Bị đánh trước khi lên đến. Đến T47 – vào phòng gần nhất, ngã. Và – nằm bốn ngày.

Hoặc – ai đó khác đánh Minh Khang. Không phải 049. Ai đó trên cầu thang, trong tối, đêm mất điện. Ai đó – biết Minh Khang sẽ lên, biết đường đi, chờ sẵn.

Tuấn. Cô nghĩ – và dừng, kiểu dừng cô dùng: nghĩ rồi kiểm tra. Tuấn đến T47 hai mươi hai giờ lẻ năm. Trước đó – Tuấn ở đâu? Đêm mất điện, Tuấn ở T47 (anh gặp Tuấn T45), rồi Tuấn xuống B2 hai mươi hai giờ mười bốn. Nhưng – giữa mất điện (hai mươi mốt giờ bốn mươi bảy) và hai mươi hai giờ lẻ năm – mười tám phút. Tuấn ở đâu mười tám phút?

Cô không nói – chưa. Giữ, kiểu giữ cô dùng mười sáu tuần: dữ kiện chưa chắc = giữ trong đầu, không nói.

– Ngày mai. Cô nói.

Anh nhìn cô – qua ánh xanh, qua mùi, qua thi thể giữa hai người.

– Đại hội sáng. Cô nói. – Minh Khang nằm đây.

– Nếu cảnh sát đến – anh nói, chậm, kiểu chậm tính toán – đại hội hoãn. Đình Viễn mua thời gian.

Cô nghe – và hiểu: thi thể trong tòa nhà = cảnh sát điều tra = đại hội hoãn = Đình Viễn muốn. Kiểu muốn – mười năm Đình Viễn muốn: mua thời gian, xóa dấu vết, kiểm soát tường thuật. Nếu đại hội hoãn – Đình Viễn có thêm tuần, tháng, đủ để mua cổ đông, ép nhân chứng, xử lý Phúc, xử lý luật sư, xử lý nhà báo.

– Không báo cảnh sát. Cô nói.

Anh nhìn cô – ba giây. Kiểu nhìn anh dùng khi cô nói thứ anh không ngờ (nửa mi-li-mét, kiểu nửa mi-li-mét nãy khi đèn pin chiếu).

– Khang nằm đây bốn ngày. Cô nói. – Thêm một ngày không thay đổi gì cho Khang. Thay đổi mọi thứ cho đại hội.

Im lặng – năm giây. Quạt kêu. Đèn nhấp nháy. Mùi.

– Cô chắc. Anh nói. Không hỏi – kiểm tra.

– Đại hội xong – báo cảnh sát. Cô nói. – Thi thể ở phòng kín, điều hòa hai mươi bốn độ. Không ai vào trừ anh và tôi. Bằng chứng – nguyên. Khang – nguyên.

Anh nghe – và im bốn giây nữa. Rồi:

– Khóa phòng từ ngoài. Tôi có chìa phòng kỹ thuật T47 – chìa cơ, không phải thẻ từ. Không ghi nhật ký.

Cô gật. Chìa cơ – kiểu chìa không ghi, kiểu chìa anh dùng mười ba năm cho những thứ không để hệ thống biết.

Cô nhìn – xuống Minh Khang. Lần cuối – trước khi khóa phòng, trước khi đại hội, trước khi mọi thứ.

Kính gọng mảnh – vỡ một bên. Mắt đóng. Da xám. Tay – phải duỗi, ngón mở, kiểu mở của người với thứ gì đó rồi buông. Cô nhìn – ngón tay, sàn quanh ngón. Và – dưới ngón trỏ, cạnh tủ thiết bị phải: vật nhỏ.

Cô cúi – đèn pin chiếu. Vật nhỏ – thanh nhớ. Đen, kiểu đen thanh nhớ cô biết (kiểu thanh nhớ Aeternum dùng: nhãn trắng nhỏ, mã bộ phận). Nhãn – cô chiếu: "LC-47-006." LC – Legal Compliance (pháp chế). 47 – tầng 47. 006 – thanh nhớ thứ sáu.

Khang đến được phòng chứng cứ. Cô nghĩ. Bị đánh – nhưng đến được. Lấy – ít nhất một thanh nhớ. Rồi – không ra khỏi T47. Vào phòng kỹ thuật – gần nhất, ngã. Thanh nhớ rơi khỏi tay.

Cô nhặt – thanh nhớ LC-47-006. Nhẹ, kiểu nhẹ mọi thanh nhớ. Nhưng – nặng, kiểu nặng Minh Khang chết để cầm.

Anh nhìn – cô nhặt thanh nhớ, mắt anh theo tay cô. Không nói.

Cô đứng. Thanh nhớ – túi quần trái, cạnh thanh nhớ Phúc. Bảy hạng mục bây giờ.

– Rửa tay. Cô nói. Nhìn – tay anh, nâu. – Đừng để máu trên tay khi đại hội.

Anh nhìn – tay mình. Nâu, khô, kiểu khô bốn ngày hoặc hai mươi phút. Anh gật – không nói.

Cô quay – ra cửa. Dừng – ở khung cửa, lưng quay về phòng, về Minh Khang, về anh. Không quay lại nhìn.

– Anh không giết Khang. Cô nói. Giọng – đều, kiểu đều cô giữ mười sáu tuần, kiểu đều cô giữ khi đứng trước thi thể đồng minh trong phòng tối mùi ngọt.

Im lặng – hai giây.

– Tôi biết.

Hai từ. Cô nói – và nghe giọng mình: đều. Nhưng – "biết" run nửa âm tiết, kiểu run cô không kiểm soát, kiểu run chỉ có khi cô nói thứ cô muốn tin hơn thứ cô chắc.

Biết không giống tin. Cô nghĩ. Biết – dữ kiện: anh nói hai mươi phút, máu khô trên tay có thể từ kiểm tra, anh không có lý do giết Khang (Khang có ổ cứng dự phòng = Khang chết không xóa được dữ liệu). Tin – cảm giác: anh đứng cạnh thi thể, tay dính máu, phòng tối, đêm trước đại hội. Hình ảnh nói một thứ. Dữ kiện nói thứ khác.

Cô bước – ra hành lang T47, gỗ sồi tối, đèn thoát hiểm xanh mờ cuối hành lang. Phía sau – anh khóa phòng kỹ thuật, chìa cơ quay, tách nhẹ. Minh Khang – bên trong, ánh xanh, quạt, hai mươi bốn độ. Một ngày nữa.


Hai mươi ba giờ bốn mươi bảy. Cầu thang T47 xuống T46.

Cô đi – xuống, đèn pin tắt (tiết kiệm pin, kiểu tiết kiệm cô luyện). Bước – đếm: mười tám bậc, kiểu mười tám bậc Trung nói, kiểu mười tám bậc cô biết từ đêm mất điện. Vệt máu – dưới chân, trong tối, kiểu vệt cô biết ở đó nhưng không nhìn nữa.

T46 – hành lang, camera đỏ nhấp nháy. Thang máy – bấm hai mươi hai. Xuống.

T22 – phòng dữ liệu. Cô vào, tối, ngồi ghế bàn trái (bàn Phúc). Không bật đèn. Không bật máy. Ngồi – tay trên đùi, ba lô lưng, áo khoác xám túi đầy. Và – trong túi quần trái: hai thanh nhớ cạnh nhau. Phúc và Khang. Người biến mất bốn năm trước và người chết bốn ngày trước.

Cô nhìn – cửa sổ, Sài Gòn đêm, đèn cam. Tầng hai mươi hai – kiểu nhìn mười sáu tuần mỗi đêm trước khi về.

Sáng mai. Cô nghĩ. Năm giờ – bếp T46. Sáu giờ – chuẩn bị. Tám giờ – đại hội. Và – trên T47, phòng kỹ thuật khóa chìa cơ: Minh Khang.

Cô đứng. Lấy – điện thoại, hai mươi chín phần trăm pin. Gọi – số anh. Chuông hai.

– Tôi nghe.

– Năm giờ. Bếp. Cô nói.

– Năm giờ.

Im lặng – hai giây. Rồi cô nói – kiểu nói cô không dự định, kiểu nói thoát ra trước khi qua bộ lọc mười sáu tuần:

– Khang nói anh ấy chọn cách nhanh nhất. Nhanh nhất – nhưng không đủ nhanh.

Im lặng. Anh nghe – kiểu nghe không trả lời, kiểu nghe bếp T46 khi cô kể về cha: nghe hết, không nói.

Cô cúp. Điện thoại tối. Phòng tối. Sài Gòn đêm ngoài kính.

Cô – đứng, T22, một mình. Kiểu một mình trước trận – nhưng khác: trước trận có kế hoạch, có danh sách, có sáu hạng mục trong túi áo. Bây giờ – bảy hạng mục. Và một thi thể.

Năm giờ. Cô nghĩ. Năm tiếng nữa. Rồi – mọi thứ.

Cô ra – cửa T22, hành lang, thang máy, sảnh, bãi xe. Xe máy – nổ, kiểu nổ mỗi đêm mười sáu tuần. Ra cổng – rẽ trái, Sài Gòn đêm thứ Hai, đường vắng, đèn cam.

Trong túi – hai thanh nhớ. Trong ba lô – sổ tay. Trong áo khoác – ổ cứng, thẻ nhớ. Trên T47 – Minh Khang.

Ngày mai, anh Khang. Ngày mai tôi vào phòng họp. Anh – ở lại đây.

Ch.72/80
3.109 từ