Người Tình Của Tầng 47
Chương 65: Nghi phạm
Chương 65

Nghi phạm

Mười một giờ hai mươi lăm. Cầu thang bộ. Tầng ba mươi tám đi lên.

Anh đi. Một mình – kiểu một mình anh biết mười ba năm: cầu thang, bê tông, tối, bước chân vang. Đèn chiến thuật – tắt. Tiết kiệm pin, và ánh sáng = bị nhìn thấy. Anh đi trong tối – kiểu đi anh quen: đếm bậc, tay vịn, mười tám bậc mỗi tầng.

Ba mươi chín – anh bước qua vệt máu. Biết – vì cảm: giày trơn, kiểu trơn của sàn ướt, sàn ướt bằng thứ anh không muốn nghĩ nhưng phải nghĩ. Máu – tươi, hai mươi phút trước khi anh và cô đến, có thể ba mươi. Ai đó – bị kéo lên, bị đẩy ra ban công, ba mươi chín tầng. Kiểu phương thức anh biết – không phải biết từ sách, biết từ mười ba năm: Bình rơi từ ba mươi, ông Toàn từ ba mươi sáu, người thứ năm từ hai mươi tám. Mỗi lần – phòng kỹ thuật, ban công, camera tắt. Mỗi lần – anh ký nhật ký vận hành: "tai nạn", "tự ý", "không nhân chứng." Mỗi lần – Tuấn ghi sổ, thêm dòng.

Bốn mươi. Bốn mươi mốt. Bốn mươi hai.

Anh leo – đều, kiểu đều anh luyện mười ba năm. Chân không mỏi – kiểu chân của người đi cầu thang T46 lên T47 mỗi ngày, kiểu chân không cần thang máy vì thang máy không có nút T47. Nhưng – khác: đêm nay anh đã xuống từ T47 đến T38 (chín tầng), lên với cô đến T39, xuống đưa cô về T38, bây giờ lên lại. Bốn lượt – bốn mươi bậy tầng tổng cộng. Chân – đều, nhưng đùi nặng hơn bình thường.

Cô leo mười sáu tầng. Một mình. Trong tối.

Anh nghĩ – và nghĩ không phải lúc, nhưng không dừng được. Kiểu nghĩ xâm nhập – kiểu nghĩ anh ghét vì mười ba năm anh không nghĩ kiểu này. Mười ba năm – anh nghĩ: hệ thống, nhật ký, chứng cứ, dòng tiền, mã. Không nghĩ: ai đó, tay ấm, ngón run, kiểu run anh không kiểm soát khi ngón anh quanh ngón cô trong phòng tối.

Tay run. Anh nghĩ. Tay tôi run. Lần đầu mười ba năm.

Đình Viễn nói đúng: anh không sợ. Nhưng run – run không phải sợ. Run – vì gì đó khác, gì đó anh chưa có từ, kiểu chưa có từ của người không được dạy từ đó. Đình Viễn dạy anh: kiểm soát, phân tích, thực hiện, báo cáo. Không dạy: nắm tay, run, kiểu run khi ngón chạm ngón và cô không rút.

Bốn mươi ba. Bốn mươi bốn.

Dừng. Nghe – cầu thang, bê tông. Im. Không bước chân phía trên, không phía dưới. Im – kiểu im anh tin bảy mươi phần trăm, vì ba mươi phần trăm còn lại = ai đó đứng im và nghe, kiểu anh đang đứng im và nghe.

Lên.

Bốn mươi lăm – chiếu nghỉ, đèn khẩn cấp đỏ (ba tầng một bóng – đúng tầng này). Ánh đỏ – mờ, đủ thấy: cầu thang, tay vịn, và – người.

Tuấn.

Ngồi – bậc thang, chiếu nghỉ T45, lưng dựa tường. Đèn pin – tắt, trên đùi. Mặt – trong ánh đỏ: bình tĩnh, kiểu bình tĩnh Tuấn, kiểu bình tĩnh của người đợi.

Anh dừng. Nhìn Tuấn – ba bậc dưới, nhìn lên. Tuấn nhìn anh – nhìn xuống. Hai người – cầu thang, đỏ mờ, một ngồi một đứng.

– Tôi lên kiểm tra T47 cho anh. Tuấn nói. Giọng – đều, kiểu đều Tuấn dùng mười ba năm khi báo cáo: không cảm xúc, không ngữ điệu, kiểu giọng đọc nhật ký vận hành.

Anh nhìn Tuấn. Kiểm tra – kiểu kiểm tra anh dùng khi đánh giá: mắt, tay, giày. Mắt Tuấn – tỉnh, không hoảng. Tay – trên đùi, cạnh đèn pin, sạch. Sạch – anh nhìn kỹ: không máu, không vết, kiểu sạch của người không dính máu T39. Giày – giày da đen, kiểu giày Tuấn mang mười ba năm. Không trơn – không dẫm máu.

– Phòng chứng cứ. Anh nói.

Tuấn nhìn anh – hai giây. Rồi:

– Trống.

Một từ. Anh nghe – và bên trong, gì đó siết. Không phải kiểu siết tay cô (ấm, gần, kiểu siết anh muốn). Siết – lạnh, kiểu lạnh của mất. Trống – nghĩa là: ổ cứng, tất cả. Không phải sáu (cô nói sáu bị lấy, tám còn). Trống – tất cả mười bốn. Hàng nghìn trang. Mười năm. Tối.

– Tất cả. Anh nói. Không hỏi – xác nhận.

– Tất cả. Tuấn gật. – Khi tôi đến – mười giờ lẻ năm – đã trống. Mười bốn ổ cứng. Hai mươi ba bìa hồ sơ. Bảy USB. Ba đĩa ghi âm. Phong bì nâu. Tường – chữ anh viết vẫn còn. Còn lại – không gì.

Anh nghe – và tính: anh kiểm tra T47 khoảng mười giờ, thấy sáu ổ mất. Xuống tìm Khang. Tuấn đến mười giờ lẻ năm – thấy trống. Ai đó lấy tám ổ còn lại trong khoảng năm phút giữa anh đi và Tuấn đến. Hoặc – ai đó lấy song song: một nhóm lấy sáu ổ cũ trước khi anh đến, nhóm khác lấy tám ổ mới sau khi anh đi. Hai lượt – kiểu hai lượt có phối hợp.

Anh đứng. Ba bậc dưới Tuấn – đứng, ánh đỏ, kiểu đứng cô thấy ở ban công T39 khi anh hơi cong vai. Nhưng cô không ở đây – anh đứng một mình, và kiểu đứng lúc này không cho ai thấy: vai cong hơn, kiểu cong anh không cho phép ở bếp T46, ở hành lang, ở T49. Cong – vì mười năm. Mười năm anh xây – từng ổ cứng, từng bìa hồ sơ, từng trang. Đức nói: "ở lại, thu thập, chờ." Anh ở lại. Anh thu thập. Mười năm – và bây giờ: trống.

– Ai. Anh nói.

Tuấn nhìn anh. Im – ba giây. Kiểu im Tuấn dùng khi cân nhắc nên nói gì – anh biết, vì mười ba năm anh đọc kiểu im Tuấn.

– Anh nghĩ ai có thể lấy mười bốn ổ cứng trong hai giờ mà biết chính xác vị trí? Tuấn nói. Giọng – đều, kiểu đều đang hỏi nhưng thật ra đang trả lời.

Anh nghe. Biết chính xác vị trí – kiểu biết của người đã vào phòng chứng cứ. Ai? Anh liệt kê – trong đầu, kiểu liệt kê anh dùng mười ba năm:

Anh – biết. Nhưng anh ở đây.

Tuấn – biết. Ngồi đây – kiểm tra cho anh, Tuấn nói. Tuấn vào T47 khi mất điện – có lý do (an ninh, kiểm tra), có quyền (thẻ an ninh ca đêm, nhưng thẻ từ chết – cửa fail-safe). Tuấn biết phòng chứng cứ – từ ngày một, vì Tuấn là người ghi nhật ký, là người đứng cửa.

Khả Vy – biết. Vào phòng chứng cứ tuần mười sáu. Nhưng cô ở T22 khi mất điện, leo lên T38, gặp anh T38, đi cùng anh đến T39. Cô không thể lên T47 – thời gian không đủ.

Minh Khang – biết. Vào phòng chứng cứ đêm trước đại hội lần một (tuần mười sáu), chép bốn ổ cứng. Biết phòng, biết vị trí. Và tối nay – biến mất. Két T38 trống. Ba lô mất. Minh Khang – nếu chạy lên T47 ngay khi mất điện (chín giờ bốn mươi bảy) → chín tầng từ T38, mười lăm phút → T47 lúc mười giờ lẻ hai. Lấy mười bốn ổ cứng + hồ sơ + USB = bao lâu? Nếu biết vị trí, nếu có ba lô, nếu nhanh – hai mươi phút. Mười giờ hai mươi hai – xong. Xuống lại T38 lấy két (kiểu đi ngược: lấy T47 trước, T38 sau). Mười giờ ba mươi lăm – lúc anh và cô ở phòng lưu trữ T38.

Hoặc – Đình Viễn. Biết T47 (ông xây, ông là chủ). Nhưng không biết phòng chứng cứ – phòng chứng cứ nằm sau tường gỗ sồi, khóa ẩn, anh tự xây mười năm trước. Đình Viễn biết T47, không biết cái anh giấu trong T47. Trừ khi – ai đó nói. Minh Khang rò rỉ cho Diệp An, Diệp An nói Đình Viễn? Hoặc – Tuấn. Tuấn ghi sổ mọi thứ. Sổ Tuấn – bốn mươi tám dòng, mỗi dòng một vi phạm. Nếu Đình Viễn đọc sổ – biết phòng chứng cứ, biết vị trí, biết mọi thứ.

– Tuấn. Anh nói. Nhẹ – kiểu nhẹ anh dùng khi nói tên thật sự hỏi.

Tuấn nhìn anh. Ánh đỏ – nửa mặt, kiểu nửa mặt mọi người trong đêm tối.

– Tôi đến T47 mười giờ lẻ năm. Tuấn nói. – Cửa fail-safe – mở. Phòng chứng cứ – mở. Tường gỗ sồi – mở, kiểu mở của ai đó biết khóa ẩn. Bên trong – trống. Tôi không lấy.

Anh nhìn Tuấn – trong ánh đỏ, kiểu nhìn anh dùng mười ba năm khi đánh giá: tin hay không. Tuấn – mười ba năm, mỗi ngày, mỗi dòng. Tuấn ghi anh – anh cũng ghi Tuấn. Tuấn trung thành? Tuấn trung thành với cái gì – với anh, với Đình Viễn, với sổ, với em gái bảy tuổi mà Đình Viễn trả học phí?

– Anh nghĩ tôi lấy. Tuấn nói. Không hỏi.

– Tôi nghĩ ba người có thể lấy. Anh nói. – Em, Khang, anh. Khả Vy không đủ thời gian. Đình Viễn không biết phòng chứng cứ – trừ khi ai đó nói.

Im lặng. Cầu thang – bê tông, đỏ mờ, hai người. Tuấn ngồi – anh đứng. Kiểu thế mười ba năm: Tuấn ngồi ghi, anh đứng quyết. Nhưng đêm nay – kiểu thế khác: Tuấn ngồi chờ, anh đứng hỏi.

– Sổ tôi. Tuấn nói. Nhẹ – kiểu nhẹ Tuấn dùng khi nói thứ anh cần nghe nhưng không muốn nghe. – Bốn mươi tám dòng. Đình Viễn chưa bao giờ đọc – vì tôi chưa bao giờ cho đọc. Nhưng –

Dừng. Tuấn nhìn anh – và anh thấy: gì đó, trong ánh đỏ, dưới lớp đều: kiểu gì đó Tuấn giữ.

– Đình Viễn không cần đọc sổ tôi. Tuấn nói. – Ông ấy có mắt riêng. Mười ba năm – anh nghĩ ông ấy chỉ có tôi?

Anh nghe – và hiểu: Đình Viễn có người khác. Không chỉ Tuấn – ai đó khác, kiểu ai đó anh không biết, kiểu ai đó theo dõi mà không ghi sổ. Đình Viễn – sáu mươi lăm tuổi, ba mươi năm xây đế chế, kiểu người không bao giờ chỉ có một con mắt.

– Đình Viễn biết phòng chứng cứ. Anh nói. Chậm – kiểu chậm của người đang xếp lại mọi thứ.

– Tôi không nói. Tuấn nói. – Nhưng ai đó nói. Hoặc Đình Viễn tự tìm – ông ấy xây tòa nhà này. Ông ấy biết mọi phòng, mọi ống thông gió, mọi cầu thang kỹ thuật. Mười năm anh giấu – ông ấy có thể biết từ năm năm trước và chờ.

Chờ. Anh nghĩ. Kiểu chờ Đình Viễn – kiểu chờ anh biết: ông không hành động khi phát hiện, ông hành động khi có lợi nhất. Biết phòng chứng cứ năm năm trước – không lấy, vì lấy = anh biết = anh chạy. Chờ – đến đêm mất điện, đến khi camera chết, đến khi anh bận (tìm Khang, tìm cô) – rồi dọn sạch. Kiểu Đình Viễn.

Hoặc – Minh Khang. Khang biết phòng chứng cứ, biết két T38. Khang lấy cả hai – dồn vào ba lô, mang ra khỏi tòa nhà trong đêm tối. Khang – chơi ba phe (Quân Phong, Đình Viễn, phe ngoài). Phe ngoài = luật sư + nhà báo. Khang mang bằng chứng gốc ra ngoài = vũ khí, kiểu vũ khí pháp lý mà luật sư cần. Khang – "ít xấu nhất" – nhưng ít xấu vẫn là xấu, và xấu kiểu Khang = tính toán, kiểu tính toán có ba lô sẵn.

Hai kịch bản. Đều hợp lý. Đều – anh mất.

– Máu ở T39. Anh nói. – Anh thấy.

Tuấn nhìn anh. Gật – nhẹ.

– Tôi thấy. Tuấn nói. – Khi xuống từ T47. Vệt – cầu thang, hành lang, phòng kỹ thuật. Tôi không vào phòng. Không mở cửa.

– Ai.

– Không biết. Tuấn nói. Dừng – hai giây. – Nhưng phương thức – anh biết. Tôi biết. Kiểu phương thức chỉ người biết tòa nhà mới dùng. Phòng kỹ thuật cơ điện – không ai nghĩ đến, trừ người biết có ban công phía sau. Ban công kỹ thuật – không có trong bản vẽ công khai. Chỉ bản vẽ kỹ thuật T49 – của Đình Viễn.

Của Đình Viễn. Anh nghĩ. Phương thức – kiểu phương thức Đình Viễn thiết kế: phòng kỹ thuật = lối thoát ẩn, ban công = thoát không camera. Ông xây tòa nhà – ông xây cả cách giết trong tòa nhà.

– Hoặc – ai đó có bản vẽ kỹ thuật. Tuấn nói. – Bản vẽ – khóa trong T49. Nhưng bản sao – cha cô Lâm từng có. Cha cô xây hệ thống IT Aeternum, truy cập bản vẽ kỹ thuật toàn bộ.

Anh nghe. Cha Khả Vy – Lâm Hữu Đức, mười năm trước, xây hệ thống. Có bản vẽ. Nếu Đức giữ bản sao – ở đâu? USB két T38 (đã giải mã)? Thư tay (Phúc giữ)? Hoặc – ở đâu đó anh không biết. Và nếu ai đó có bản vẽ Đức – biết ban công, biết phòng kỹ thuật, biết cách dùng.

Quá nhiều "nếu." Anh ghét "nếu" – mười ba năm anh sống bằng "biết", không phải "nếu." Bây giờ – tối, mất điện, mất chứng cứ, mất Minh Khang, thêm máu – và "nếu" nhiều hơn "biết."

– Lên T47. Anh nói.

Tuấn đứng. Chậm – kiểu đứng Tuấn, đều, không vội. Lấy đèn pin – bật. Ánh sáng – trắng, mạnh hơn đèn khẩn cấp đỏ.

Hai người – lên. Bốn mươi sáu. Bốn mươi bảy.


Tầng bốn mươi bảy. Mười một giờ bốn mươi lăm.

Cửa – hé. Fail-safe. Anh đẩy – hành lang T47, gỗ sồi, đèn khẩn cấp đỏ. Kiểu hành lang anh đi mười ba năm – nhưng đêm nay khác: tối, đỏ, kiểu đỏ biến gỗ sồi thành màu cô gọi gì – anh không biết, nhưng kiểu màu đáng sợ.

Đi – văn phòng anh, cửa mở. Mười hai màn hình – tắt, đen, kiểu đen anh chưa thấy mười ba năm (màn hình luôn sáng, luôn chạy, kiểu sáng nền đời anh). Bàn – đồng hồ cơ trên bàn, kim dạ quang: mười một giờ bốn mươi bảy.

Phòng chứng cứ.

Anh đi – cuối hành lang, tường gỗ sồi. Khóa ẩn – anh sờ: mở. Đã mở – kiểu mở Tuấn nói: ai đó biết khóa ẩn. Tường trượt – khe hở, kiểu khe hở anh biết vì anh xây: hai mươi xăng-ti-mét, đủ vai, vào.

Phòng chứng cứ – sáu mét vuông. Đèn chiến thuật quét.

Trống.

Giá ổ cứng – trống. Mười bốn vị trí, mười bốn ổ, mười bốn nhãn (2016, 2017... 2025, A, B, C, D). Trống – không ổ nào, không bìa nào, không USB nào. Đĩa ghi âm – không. Phong bì nâu – không. Kiểu trống sạch, kiểu trống của người lấy có phương pháp: từng thứ, từng vị trí, không bỏ sót.

Anh đứng. Giữa phòng – sáu mét vuông, trống. Tường – chữ anh viết bằng bút đánh dấu vẫn còn:

"Ông ấy muốn nói: chạy đi."

"Nhưng tôi không chạy."

Hai dòng – trên tường, bút đen, mười năm. Ai đó lấy mười bốn ổ cứng, hai mươi ba bìa hồ sơ, bảy USB, ba đĩa, một phong bì – nhưng để lại hai dòng chữ trên tường. Vì không lấy được tường. Hoặc vì – kiểu vì anh nghĩ nhưng không muốn thừa nhận: ai đó để lại cho anh đọc. Kiểu nhắn: tôi lấy hết, nhưng tôi biết anh viết gì, tôi biết anh là ai.

Anh tắt đèn. Tối – phòng chứng cứ trống, sáu mét vuông, một người. Đứng – giữa, kiểu đứng anh chưa bao giờ: vai cong, tay buông, kiểu đứng không giáp. Mười ba năm anh xây – bắt đầu từ ổ cứng đầu tiên (2016, 500GB, vụ đầu tiên sau khi Đức chết), xây từng năm, từng vụ, từng dòng. Mười năm – và bây giờ anh đứng giữa phòng trống.

"Đừng chạy. Ở lại. Thu thập. Chờ." Đức nói. Anh ở lại. Anh thu thập. Mười năm – hàng nghìn trang, hàng trăm giờ, mười bốn ổ cứng. "Con gái tao sẽ đến." Cô đến. Anh cho cô xem. Cô khóc – lần đầu mười năm, vì hiểu. Và bây giờ – phòng trống. Thu thập – mất. Mười năm – ai đó lấy trong hai giờ.

Anh đứng. Tối. Và nghĩ – kiểu nghĩ anh không cho phép mình thường: không phải hệ thống, không phải kế hoạch. Nghĩ: nếu không có phòng chứng cứ, đại hội dựa vào gì? Bốn ổ cứng Minh Khang chép (ổ mới, 2022–2025) – ở đâu? Khang gửi Diệp An bốn bản, giữ một (bản giao cô tối qua). Cô có – ổ cứng trong túi áo khoác, T38. Luật sư có – bản Khang gửi. Nhà báo có – Tú đăng bài. Nhưng – bản gốc mất. Bản gốc 2016–2021 – sáu năm đầu, vụ cha, vụ Khoa, vụ chuyển giao gốc. Không ai có bản sao sáu năm đầu ngoài phòng chứng cứ.

Mười năm – mất.

Anh đặt tay lên tường. Chữ anh viết – bút đen, nét đậm, cô thấy tuần mười sáu khi vào lần đầu. "Nhưng tôi không chạy." Tay anh – trên chữ "không", kiểu chạm anh chưa làm mười năm: chạm chữ mình viết, kiểu chạm của người đang hỏi chính mình còn đúng không.

Mười năm thu thập – mất. Phòng chứng cứ – trống. Đại hội – năm ngày. Chứng cứ – chỉ còn ổ cứng Khang (bản mới, 2022–2025), nhân chứng Phúc, kiểm toán viên Phương Anh, bài báo. Đủ? Không biết. Đủ để phá T47? Không biết.

Nhưng cô – ở T38. Sống. Chốt cửa. Chờ.

Anh bỏ tay khỏi tường. Quay – Tuấn đứng ngoài khe tường, đèn pin tắt, chờ. Kiểu chờ Tuấn – đều, mười ba năm.

– Ghi. Anh nói.

Tuấn lấy sổ – sổ đen, bút đen. Kiểu lấy anh thấy mười ba năm: nhanh, đều, sẵn sàng.

– Dòng bốn mươi chín. Anh nói. – Đêm mất điện. Phòng chứng cứ bị dọn sạch. Mười bốn ổ cứng, hai mươi ba bìa hồ sơ, bảy USB, ba đĩa, một phong bì. Mười năm. Nghi phạm: Vũ Minh Khang hoặc Tạ Đình Viễn. Hoặc – cả hai.

Tuấn viết – kiểu viết anh nghe: bút trên giấy, đều, nhanh. Dòng bốn mươi chín. Dài nhất – anh biết, vì dòng này nhiều thứ mất nhất.

– Anh biết điều tôi biết. Tuấn nói. Gập sổ. – Đình Viễn không cần sổ này nữa. Ông ấy đã lấy thứ ông ấy muốn. Sổ tôi – lúc này – chỉ còn giá trị với anh.

Anh nhìn Tuấn. Và hiểu: Tuấn đang chọn phe. Bốn mươi tám dòng – Tuấn ghi cho ai? Cho Đình Viễn (bảo hiểm, con tin)? Cho chính Tuấn (bằng chứng, thoát thân)? Hay cho anh (kiểu ghi của đồng minh)? Mười ba năm – anh không biết. Đêm nay – Tuấn nói: "chỉ còn giá trị với anh." Kiểu nói = kiểu chọn. Tuấn chọn anh.

Hay – Tuấn muốn anh nghĩ vậy.

Anh không nói. Quay – ra khỏi phòng chứng cứ trống, hành lang gỗ sồi đỏ mờ, văn phòng. Đồng hồ cơ – mười một giờ năm mươi tám. Hai phút nữa – nửa đêm. Ngày mới – thứ Sáu, tuần mười bảy. Bốn ngày trước đại hội.

Anh đứng – cửa sổ T47, kiểu đứng lần thứ hai trong mười ba năm (lần đầu – tối thứ Ba, khi cô nói "tôi có sáu đồng minh"). Nhìn ra – Sài Gòn đêm, đèn đường, tòa nhà đối diện sáng. Aeternum – tối. Kiểu tối anh chưa thấy từ ngoài nhìn vào: năm mươi tầng đen, chỉ đèn khẩn cấp đỏ nhấp nháy.

Mười năm thu thập. Trống.

Nhưng – trên tường phòng chứng cứ: "Nhưng tôi không chạy."

Và ở T38 – cô. Chốt cửa. Chờ. Tay – ấm, kiểu ấm anh biết vì mười lăm phút trước anh nắm.

Bốn ngày. Và anh – vẫn không chạy.

Ch.65/80
3.486 từ