Người Tình Của Tầng 47
Chương 60: Lời hứa cuối
Chương 60

Lời hứa cuối

Thứ Ba, tuần thứ mười bảy. Sáu giờ chiều.

Bếp tầng bốn mươi sáu. Hai ly trà – một xanh (anh), một đen (cô). Đèn ống rù. Cửa đóng.

Bốn ngày – từ thứ Ba tuần trước, từ "tôi sai", từ sổ tay "gặp Phúc một mình" – cô không đến bếp này. Bốn ngày anh ngồi một mình, một ly, đèn ống, rù. Hôm nay – hai ly. Cô đến.

Không phải cô muốn đến. Quân Phong nhắn – điện thoại cá nhân, số cô biết từ Chủ Nhật vỉa hè: "Bếp. 6h. Quan trọng." Ba từ. Cô đến – vì "quan trọng", không phải vì hai ly trà.

Cô ngồi. Ghế trái – ghế cô ngồi bảy lần trước, kiểu ghế đã quen hình cô. Anh ngồi đối diện – vest đen, cà vạt (thắt, chặt – giáp đóng lại, khác Chủ Nhật vỉa hè). Mắt – nhìn cô, và cô thấy: khác. Không phải ánh mắt bếp tầng bốn mươi sáu lần trước – lần trước anh nhìn kiểu nhìn chọn: nói hay không, bao nhiêu, giấu gì. Lần này – nhìn kiểu nhìn không chọn. Nói hết. Vì không còn gì để giấu mà đáng giấu.

– Đình Viễn ra lệnh xử lý Minh Khang. Anh nói. Không mở đầu, không dẫn dắt. Thẳng. – Trước đại hội. Tôi nhận lệnh sáng qua.

Cô nghe. Biết – biết từ Chủ Nhật, biết từ "nộp Khang." Nhưng nghe xác nhận – kiểu xác nhận từ người nhận lệnh giết – khác. Nặng hơn.

– Diệp An bị nhắm. Anh nói. – Tôi kéo Diệp An vào – nói Đình Viễn Khang làm việc với Diệp An. Đình Viễn giận Diệp An hơn – phản bội gia tộc. Tôi mua được thời gian – ba ngày, có thể năm. Nhưng sau đó – Đình Viễn sẽ kiểm tra. Khang vẫn sống. Đình Viễn sẽ biết tôi không thực hiện.

– Và sau đại hội. Cô nói.

Anh nhìn cô. Im – hai giây. Rồi:

– Sau đại hội, Đình Viễn sẽ dọn dẹp. Tất cả. Anh nói. – Khang – đầu tiên. Diệp An – nếu không lật được. Kiểm toán viên Phương Anh – nếu còn ở Sài Gòn. Và em.

Và em. Hai từ – nhẹ, kiểu nhẹ của câu nặng nhất Quân Phong nói trong bếp này. Cô nghe – và bên trong, gì đó siết, kiểu siết cô quen: tay nắm dưới bàn, ngón vào lòng bàn tay, không ai thấy.

– Đình Viễn biết em. Anh nói. – Biết từ tuần một – con gái Lâm Hữu Đức. Biết em vào Aeternum để tìm. Mười sáu tuần ông ấy để em ở – vì tôi che. Sau đại hội – tôi không che được nữa. Tôi sẽ là mục tiêu, giống em.

Im lặng. Bếp – đèn ống, rù, mùi trà xanh. Hai ly trên bàn – một xanh, một đen. Giống bảy lần trước. Khác – vì bảy lần trước, anh nói về quá khứ (cha, USB, phòng chứng cứ). Lần này – anh nói về tương lai. Và tương lai – có chữ "chết."

– Em phải rời Aeternum. Anh nói. Giọng – thay đổi, thấp hơn nửa tông, kiểu thấp cô nghe ở vỉa hè Nguyễn Huệ khi anh nói "vì không." – Ngay bây giờ. Hôm nay. Đừng quay lại.

Cô nhìn anh. Mặt phẳng – mặt cô, mặt anh, hai mặt phẳng đối diện. Nhưng dưới mặt phẳng anh – cô thấy: gì đó, kiểu gì đó cô thấy lần đầu ở hành lang tuần mười một. Nứt. Nhỏ. Kiểu nứt anh không cho ai thấy – nhưng cô thấy, vì cô nhìn quá kỹ, quá lâu, mười sáu tuần.

– Cha tôi cũng được cảnh báo. Cô nói. Giọng – đều, kiểu đều cô dùng khi phân tích. Không lạnh – bình tĩnh, kiểu bình tĩnh của người đã tính trước sẽ nghe câu này. – Cha tôi không dừng.

Anh nhìn cô – và cô thấy: anh biết câu đó sẽ đến. Biết – và vẫn đau, kiểu đau anh giấu bằng mặt phẳng nhưng gân tay nổi trên bàn.

– Cha em chết vì không dừng. Anh nói. Nhẹ – nhẹ đến mức cô phải nghiêng đầu. Nhẹ – kiểu nhẹ của người không muốn nói câu đó nhưng phải nói.

Im lặng. Đèn ống rù. Trà – nguội, cả hai ly. Cô nghe tiếng rù – kiểu rù nền cô đã nghe chín lần trong bếp này, kiểu rù không ai để ý cho đến khi mọi thứ khác im.

– Cha tôi chết vì không có đồng minh. Cô nói. Chậm – mỗi chữ, đặt. – Cha tôi ở trong T47 sáu năm – một mình. Cha thu thập – một mình. Cha gửi thư cho anh – nhưng anh lúc đó mười chín tuổi. Cha không có ai.

Cô dừng. Nhìn anh – thẳng, kiểu nhìn cô dùng khi đối đầu: mắt trên mắt, không tránh.

– Tôi có. Cô nói. – Tôi có Phúc – nhân chứng, bốn năm chờ để nói. Tôi có kiểm toán viên Phương Anh – số liệu, tên, mã. Tôi có nhà báo Hoàng Minh Tú – bài đăng, dư luận. Tôi có luật sư – sáu tháng chuẩn bị. Tôi có bốn ổ cứng Minh Khang chép – dù bán cho Diệp An, dữ liệu vẫn ở ngoài Aeternum. Và tôi có anh – mười năm phòng chứng cứ, mười bốn ổ cứng, hai mươi ba bìa hồ sơ.

Cô dừng. Trà – nguội, ly đen, cô nâng lên, uống một ngụm. Đặt xuống.

– Cha tôi chết vì không có đồng minh. Tôi có sáu. Cô nói. – Tôi không dừng.

Anh nhìn cô – lâu, lâu hơn mọi lần trong bếp này. Mắt – và cô thấy: gì đó, dưới lớp nứt, dưới lớp phẳng, dưới mười ba năm giáp. Gì đó – cô chưa đặt tên, chưa viết vào sổ, chưa phân tích. Không phải sợ (anh không sợ – Đình Viễn nói đúng). Không phải buồn. Gần hơn – kiểu gần của người nhìn thứ gì đó anh tưởng sẽ không bao giờ có, và bây giờ có, và không biết xứng không.

– Sáu đồng minh. Anh nói. Giọng – kiểu giọng cô chưa nghe: không đều, không thấp, không lạnh. Gì đó – gần, kiểu gần của vỉa hè Nguyễn Huệ khi anh nói "vì không." – Em đếm tôi.

– Tôi đếm anh.

Im lặng. Dài – mười giây, mười lăm. Đèn ống rù. Trà nguội. Hai người – bàn nhỏ, bếp cũ, tầng bốn mươi sáu, giữa tòa nhà năm mươi tầng mà mỗi tầng là một chiến trường. Cô đếm anh. Anh nghe – và cô thấy: tay anh trên bàn, ngón thẳng, nhưng ngón út – run. Nhẹ. Nửa giây. Rồi hết.

Anh không nói thêm. Cô không nói thêm. Hai ly trà nguội – một xanh, một đen. Bếp – đèn ống, rù, cũ. Chín ngày.


Tám giờ tối. Tầng hai mươi hai. Phòng dữ liệu – đèn sáng, một mình.

Trung đi rồi – bốn giờ, kiểu sớm tuần trước. Hệ thống vẫn chết – ngày thứ mười. Cô ngồi – bàn, đèn bàn, sổ tay mở. Chờ.

Không chờ lâu. Tiếng bước chân – nhẹ, đều, kiểu bước cô nhận ra: giày da mềm, không gót cao, kiểu giày Minh Khang mang khi không muốn ai nghe đến.

Cửa mở. Minh Khang – áo sơ mi xanh nhạt, tay áo xắn, kính gọng mảnh. Ba lô – nhỏ, đen, đeo một vai, kiểu ba lô cô chưa thấy anh mang. Mặt – bình tĩnh. Kiểu bình tĩnh cô biết: bình tĩnh thật, không phải giả. Minh Khang bình tĩnh khi đã chuẩn bị xong.

– Em. Anh nói. Đứng ở cửa – không vào, kiểu đứng của người ghé ngang, không ở lại.

– Anh Khang.

Minh Khang bước vào – ba bước, đến bàn cô. Đặt ba lô xuống – không ngồi. Mở – kéo khóa, tay nhanh, kiểu nhanh của người đã lặp lại động tác này nhiều lần.

Ổ cứng. Nhỏ – 2.5 inch, vỏ đen, nhãn trắng. Anh đặt trên bàn cô – trước mặt, cạnh sổ tay.

– Bản sao. Anh nói. – Mọi thứ anh có. Bốn ổ cứng phòng chứng cứ – bản anh chép đêm trước đại hội. Biên bản HĐQT – bốn bản trích đoạn. Nhật ký pháp chế – ba năm. Hợp đồng cam kết bảo mật – bảy bản anh soạn. Ảnh chụp sổ bìa cứng két tầng ba mươi tám – mười bảy tên, đầy đủ.

Cô nhìn ổ cứng – nhỏ, đen, nhẹ. Nhưng bên trong – nặng. Mười năm Quân Phong thu thập, ba năm Minh Khang soạn, mười bảy dòng mười bảy cuộc đời. Nặng – kiểu nặng không đo bằng gram.

– Tại sao cho em. Cô hỏi.

Minh Khang nhìn cô – và lần đầu tiên, cô thấy: không cười, không phẳng, không pháp chế. Gì đó – dưới, kiểu dưới cô chưa thấy ở Minh Khang. Mệt. Không phải mệt ngủ – mệt kiểu mệt của người chơi ba phe mười sáu tuần và bây giờ biết ván cờ sắp kết thúc.

– Đình Viễn ra lệnh xử lý anh. Anh nói. Giọng – đều, kiểu đều pháp lý, kiểu đều anh dùng khi đọc hợp đồng. – Phong nộp tên anh sáng qua. Anh biết – Phong gọi anh thứ Bảy. Bốn mươi tám giờ.

– Anh không chạy.

– Anh không chạy. Minh Khang gật. – Anh đi đại hội. Nhưng – giữa bây giờ và đại hội, bốn ngày. Bốn ngày – Đình Viễn có thể kiểm tra. Nếu kiểm tra – thấy anh sống. Nếu thấy anh sống – biết Phong không thực hiện. Nếu biết – Đình Viễn xử lý anh bằng cách khác. Không qua Phong.

Cô nghe – và hiểu: Minh Khang tính mọi kịch bản. Kiểu Minh Khang. Kiểu luật sư.

– Nếu anh không đến đại hội. Minh Khang nói. Nhìn cô – thẳng, kiểu nhìn anh dùng ở két tầng ba mươi tám khi đưa cô chìa khóa. – Em biết phải làm gì.

Cô nhìn ổ cứng. Nhìn Minh Khang. Và hiểu – hiểu rõ, kiểu hiểu lạnh: "nếu anh không đến đại hội" nghĩa là "nếu anh chết." Ổ cứng này – bảo hiểm. Nếu Minh Khang chết trước đại hội, dữ liệu vẫn ở ngoài – ở tay cô. Cô – không phải Diệp An (dùng để lật ghế), không phải luật sư (dùng để tố giác). Cô – con gái Lâm Hữu Đức, người có lý do mười năm, người sẽ dùng vì sự thật, không vì quyền lực.

Minh Khang chọn cô – không phải Diệp An, không phải luật sư. Chọn cô. Vì cô là bản sao duy nhất của mục đích ban đầu – phá tầng bốn mươi bảy, không phải thay chủ tầng bốn mươi bảy.

– Anh sẽ đến đại hội. Cô nói. Không hỏi – nói, kiểu nói cô dùng khi chốt kết luận từ dữ liệu.

Minh Khang nhìn cô – và cười. Nhẹ – kiểu cười cô nhớ từ tuần sáu, quán Lối Nhỏ, "ít xấu nhất." Nhưng khác – kiểu cười của người biết mình có thể không giữ được lời nhưng vẫn muốn cười.

– Anh sẽ cố. Anh nói.

Cô cầm ổ cứng. Nhẹ – nhẹ hơn cô tưởng. Bỏ vào túi áo khoác – túi trong, cạnh sổ tay. Hai thứ nặng nhất cô mang – sổ tay và ổ cứng, giấy và dữ liệu, mười sáu tuần và mười năm.

– Cảm ơn anh. Cô nói.

Minh Khang gật. Đeo ba lô – một vai, kiểu đeo anh dùng khi đến. Nhìn cô – nửa giây, kiểu nhìn cô chưa đặt tên. Không phải nhìn kiểu Quân Phong (sâu, nặng, kiểu nhìn mang theo mười ba năm). Nhìn – kiểu nhìn nhẹ, kiểu nhìn của người nói lời tạm biệt mà không dùng từ đó.

– Bốn ngày. Anh nói.

Quay. Bước ra. Cửa đóng – nhẹ, kiểu đóng cô nhận ra: Minh Khang luôn đóng cửa nhẹ. Mười sáu tuần – cô chưa bao giờ nghe Minh Khang đóng cửa mạnh.


Chín giờ tối. Tầng bốn mươi bảy. Quân Phong.

Mười hai màn hình – mười một tối, một sáng. Màn hình số ba: tầng hai mươi hai, phòng dữ liệu, góc trần.

Anh nhìn. Cô ngồi – bàn, đèn bàn, sổ tay mở. Một mình – Minh Khang đi rồi, mười lăm phút trước. Anh thấy: Khang vào, đặt ba lô, mở, lấy ổ cứng. Đặt trên bàn cô. Nói – anh không nghe (camera không có âm thanh tầng hai mươi hai, anh tắt mic từ tuần mười ba). Cô nhìn. Cô cầm. Bỏ vào túi áo khoác.

Ổ cứng. Anh biết – biết vì anh biết Khang: Khang chép bốn ổ cứng, Khang gửi Diệp An, Khang gửi luật sư. Nhưng Khang giữ bản thứ ba – kiểu giữ của người luôn có thêm một lá bài. Bản thứ ba – bây giờ ở túi áo khoác cô.

Anh nhìn màn hình – và không ghen. Mười tuần trước – tuần mười hai, camera tầng ba mươi tám, Khang ngồi cạnh cô, vòng tay qua lưng ghế – anh xem bảy phút, xuống T38 đứng ngoài cửa, mở hồ sơ Khang tìm lý do nghi ngờ. Tuấn hỏi: "Tìm lý do hay ghen?" Dòng bốn mươi sáu.

Bây giờ – không ghen. Nhìn Khang đưa ổ cứng cho cô và cô bỏ vào túi – và anh thấy: Khang giao mọi thứ cho cô. Không phải vì yêu – Khang không yêu cô, anh biết, vì Khang nhìn cô kiểu nhìn khác (nhẹ, kiểu nhẹ đồng đội, không phải nặng). Khang giao vì Khang biết – nếu Khang chết, cô sẽ dùng đúng. Không như Diệp An (dùng để lật). Không như luật sư (dùng để kiện). Cô – dùng vì sự thật. Vì cha. Vì mười bảy dòng.

Anh nhìn – và không ghen. Sợ. Kiểu sợ anh không cho ai thấy, kiểu sợ chỉ có ở đây – một mình, tầng bốn mươi bảy, đèn tắt, màn hình sáng. Sợ – vì ổ cứng đó nghĩa là Khang chuẩn bị chết. Và cô ở gần Khang – nghĩa là cô ở gần vùng nguy hiểm. Và anh – người nhận lệnh xử lý Khang – đang bảo vệ Khang bằng cách không thực hiện lệnh. Mỗi ngày anh trì hoãn = mỗi ngày Đình Viễn gần hơn phát hiện. Mỗi ngày Đình Viễn gần hơn = mỗi ngày cô gần hơn danh sách.

Anh tắt màn hình. Đứng. Đi đến cửa sổ văn phòng T47 – nhìn ra, Sài Gòn đêm, đèn, xe, kiểu nhìn anh không bao giờ dùng vì mười ba năm anh không nhìn ra cửa sổ. Cửa sổ – thứ anh không có quyền: nhìn ra = nhìn đi, nhìn đi = muốn đi. Anh không đi – mười ba năm. Đức nói "đừng chạy." Anh không chạy.

Nhưng bây giờ – anh nhìn. Nhìn Sài Gòn đêm – đèn vàng, đường xa lộ, máy bay nhấp nháy trên trời. Nhìn – và nghĩ: chín ngày nữa. Sau chín ngày – hoặc tầng bốn mươi bảy sập, hoặc anh sập. Hoặc cả hai.

Tay phải – trong túi vest, chạm mảnh giấy Đức. Bạc. Mười ba năm. "Đừng chạy."

Không chạy. Anh nghĩ. Nhưng lần đầu tiên – muốn.


Mười giờ đêm.

Ba người. Ba tầng.

Tầng hai mươi hai – cô ngồi. Sổ tay mở, ổ cứng trong túi áo khoác. Viết:

"9 ngày. Phúc, hôm nay, Bình Dương, gặp rồi. Phúc có thư tay cha – bản khác, nội dung chưa đọc. Phúc sẽ làm chứng tại đại hội. Đồng minh thứ 7."

"MK cho ổ cứng, bảo hiểm. Nếu MK không đến = MK chết. Ổ cứng = lời hứa cuối."

"QP cảnh báo: sau đại hội, ĐV dọn dẹp tất cả, kể cả em. Cha cũng được cảnh báo. Cha không dừng. Em không dừng."

Gập sổ. Tắt đèn. Đứng. Nhìn ra cửa sổ tầng hai mươi hai – Sài Gòn đêm, kiểu đêm cô đã thấy mười sáu tuần, kiểu đêm bây giờ khác vì cô biết có thể là chín đêm cuối.

Tầng ba mươi tám – Minh Khang. Phòng tối, đèn tắt, đã đi. Ba lô – nhẹ hơn khi đến, vì ổ cứng ở lại với cô. Anh đi – đường nào, về đâu, cô không biết. Minh Khang biến mất vào Sài Gòn đêm kiểu Minh Khang: nhẹ, không vang, cửa đóng khẽ.

Tầng bốn mươi bảy – Quân Phong. Cửa sổ, lưng quay lại mười hai màn hình tắt. Nhìn ra – lần đầu trong mười ba năm. Tay trong túi vest, chạm mảnh giấy bạc.

Ba người. Mỗi người – một nỗi sợ. Quân Phong sợ mất cô. Minh Khang sợ không đến được đại hội. Cô sợ mất cha lần thứ hai – mất ý nghĩa mười năm, mất sự thật cô xây cuộc đời quanh nó.

Nhưng lần đầu tiên – ba người cùng nhìn về một hướng. Chín ngày. Đại hội. Và sau đại hội – hoặc tầng bốn mươi bảy sập, hoặc cả ba sập.

Chín ngày. Và cô – tắt đèn tầng hai mươi hai, bước ra cửa, thang máy xuống sảnh – mang theo sổ tay tay trái và ổ cứng túi phải. Hai thứ nặng nhất. Hai lời hứa – của cha (sổ tay, mười năm) và của Minh Khang (ổ cứng, "nếu anh không đến"). Hai lời hứa cuối.

Sảnh Aeternum – tối, bảo vệ gật đầu, cửa kính. Cô bước ra – đêm, gió, Sài Gòn. Nhìn lên tòa nhà – năm mươi tầng, đèn tắt dần từ trên xuống, kiểu tắt cô thấy tuần một. Tầng bốn mươi bảy – sáng. Một bóng, cửa sổ, đứng.

Cô nhìn. Anh nhìn. Năm mươi tầng giữa hai người – kính, bê tông, đèn ống, camera, mười bảy dòng, mười một cái chết. Cô đứng dưới. Anh đứng trên. Và giữa – mọi thứ.

Chín ngày.

Ch.60/80
3.047 từ