Người Tình Của Tầng 47
Chương 63: Trong bóng tối
Chương 63

Trong bóng tối

Cầu thang bộ, tầng ba mươi tám. Mười giờ mười lăm.

Hai người – ánh đỏ mờ, bê tông, đứng đối diện. Cô và anh. Khoảng cách – một bước, kiểu một bước gần hơn mười sáu tuần (bếp T46 = hai mét, bàn giữa. Vỉa hè Nguyễn Huệ = bàn cà phê inox giữa. Hành lang T46 = ba bước). Một bước – và cô thấy: mắt anh, trong ánh đỏ, kiểu mắt cô biết nhưng chưa thấy ở khoảng cách này. Sắc – nhưng thêm gì đó, kiểu gì đó cô thấy lần đầu ở vỉa hè khi anh nói "vì không." Gần. Kiểu gần anh không cho ai ở ngoài bếp T46.

– Vào phòng. Anh nói. Thì thầm – kiểu thì thầm bê tông, gần, cô nghe rõ dù nhẹ. – Cầu thang không an toàn. Ai đó đang di chuyển.

Cô gật. Quay – cửa cầu thang T38, đẩy, hành lang. Anh theo – bước nhẹ, kiểu bước cô nghe từ nửa tầng trên: giày da, trọn bàn chân, không gót. Hai người – hành lang T38, thảm, đỏ mờ. Im – ngoài bước chân, không tiếng gì.

Phòng lưu trữ – cô dẫn, vì cô biết đường (ba cửa từ pháp chế, phải). Cửa mở – fail-safe. Vào. Anh vào sau – và đóng cửa, kiểu đóng nhẹ (kiểu Minh Khang, cô nghĩ – rồi gạt, vì bây giờ không phải lúc nghĩ Minh Khang).

Cửa – đóng nhưng không khóa. Khóa từ mất điện = không khóa. Cô nhìn – chốt tay. Có – chốt cơ bên trong, kiểu chốt phòng lưu trữ. Cô kéo chốt – click, khóa.

Tối. Cô tắt đèn pin – tiết kiệm pin, và ánh sáng = bị thấy từ khe cửa. Tối – hoàn toàn, kiểu tối phòng kín không cửa sổ (phòng lưu trữ nằm giữa tầng, không có cửa sổ ngoài). Cô không thấy bàn tay mình. Không thấy anh – nhưng nghe: thở, nhẹ, gần. Một bước.

– Két. Anh nói. Thì thầm. – Em thấy.

Không hỏi – phát biểu. Anh biết cô đã vào, đã thấy két trống.

– Trống. Cô nói. Thì thầm – giọng cô trong tối, kiểu giọng cô chưa dùng: nhẹ, gần, kiểu giọng chỉ dành cho người đứng một bước cách. – Sổ bìa cứng. Ba USB. Mất hết.

Im lặng – hai giây. Cô nghe: anh thở, kiểu thở cô nhận ra không phải từ mắt mà từ tai. Mười một tuần bếp T46 – cô biết tiếng thở Quân Phong: đều, chậm, kiểu thở của người kiểm soát. Nhưng bây giờ – hơi nhanh hơn bình thường. Nhẹ – nhưng nhanh hơn. Kiểu thở của người vừa xuống bảy tầng cầu thang trong tối và bây giờ đứng trong phòng kín với cô.

– Phòng chứng cứ T47. Anh nói. – Tôi lên kiểm tra khi mất điện. Cửa fail-safe – mở. Sáu ổ cứng – mất. 2016, 2017, 2018, 2019, 2020, 2021. Còn tám – 2022 đến 2025. Ai đó chọn – lấy cái cũ, để cái mới.

Cô nghe – ghi. Sáu ổ cũ – 2016 đến 2021. Tám ổ mới – 2022 đến 2025. Ai đó chọn lấy ổ cũ – tại sao? Ổ cũ chứa gì? Bằng chứng cũ hơn – sáu năm đầu, kiểu bằng chứng gốc: vụ cha (2016), vụ Khoa (2020–2021), các vụ chuyển giao đầu tiên. Ai đó cần bằng chứng gốc – không cần bằng chứng gần đây.

– Ai đó biết phòng chứng cứ ở đâu. Cô nói. – Biết cửa fail-safe. Biết ổ cứng xếp theo năm. Chọn đúng sáu cái – không phải lấy bừa. Kiểu người biết T47.

– Ít người biết. Anh nói. – Tôi. Tuấn. Đình Viễn biết phòng nhưng không biết cách xếp. Và cha em – nhưng cha em mất mười năm trước.

Cô nghĩ – trong tối, kiểu nghĩ cô dùng khi không có màn hình, không có sổ, chỉ có đầu. Ai biết phòng chứng cứ T47? Quân Phong – đang ở đây. Tuấn – ở đâu? Đình Viễn – biết phòng nhưng không biết chi tiết. Minh Khang – biết T47 (đêm trước đại hội, chép bốn ổ cứng), nhưng biết cách xếp không?

– Minh Khang chép bốn ổ đêm trước đại hội lần một. Cô nói. – Bốn – không phải sáu. Và Khang chép 2022 đến 2025 – ổ mới. Không đụng ổ cũ.

– Đúng. Anh nói. – Khang không biết ổ cũ quan trọng. Khang lấy cái gần nhất – kiểu luật sư, lấy bằng chứng gần nhất để dùng ngay. Người lấy sáu ổ cũ – biết giá trị ổ cũ. Biết vụ gốc. Biết lịch sử.

Im lặng. Tối – phòng kín, két trống, hai người. Cô đứng – và nghe: ngoài phòng, hành lang, im. Không bước chân. Không tiếng cửa. Im – kiểu im thảm T38.


Mười giờ hai mươi lăm.

Cô ngồi. Sàn – lạnh, gạch, kiểu lạnh cô cảm qua quần. Lưng dựa tường – cạnh két trống, góc phòng. Anh ngồi – cô nghe: vải trên gạch, tiếng ngồi xuống, bên phải cô. Gần – không biết bao gần trong tối, nhưng nghe: gần. Kiểu gần cô cảm bằng không khí – hơi ấm, nhẹ, kiểu ấm của người ngồi cách nửa mét.

– Tuấn. Cô nói. Thì thầm. – Tuấn ở đâu.

– Không biết. Anh nói. – Khi mất điện, tôi ở T47. Tuấn – ca đêm, lẽ ra ở T30, phòng giám sát an ninh. Hệ thống giám sát mất điện – Tuấn mất mắt. Tôi xuống tìm Khang – không gọi Tuấn vì sóng chết.

Sóng – cô kiểm tra điện thoại. Bật – sáng, ánh trắng trong tối, cô che bằng tay. Pin năm mươi bảy phần trăm. Sóng – không vạch. Trạm phát chết hoàn toàn. Không gọi, không nhắn, không dữ liệu. Cô tắt – tối lại.

– Bảo vệ. Cô nói. – Tôi nghe cửa mở ở tầng ba mươi mốt, ba mươi hai khi leo lên. Ai đó ra khỏi cầu thang.

– Bảo vệ đi giày cao su. Anh nói. – Bước chân em nghe – giày da?

– Giày da. Nhẹ. Nhanh.

Im lặng – ba giây. Cô nghe: anh nghĩ. Kiểu im của Quân Phong khi đang chạy kịch bản trong đầu – cô biết kiểu im đó, mười một tuần bếp T46, mười một lần nghe anh dừng giữa câu để tính.

– Có ba loại người trong tòa nhà đêm nay. Anh nói. Chậm – kiểu chậm anh dùng khi giải thích hệ thống cho cô ở bếp: từng bước, logic. – Một: bảo vệ – bốn người ca đêm, đi tuần, giày cao su, đèn pin. Hai: em và tôi – biết tòa nhà, có lý do. Ba: ai đó khác – giày da, biết đi cầu thang, biết tòa nhà đủ rõ để di chuyển trong tối mà không lạc.

– Ai đó lấy sáu ổ cứng. Cô nói.

– Có thể. Anh nói. – Hoặc ai đó đến lấy thứ khác – và ổ cứng chỉ là một phần.

Thứ khác. Cô nghĩ. Sổ bìa cứng két T38 – mười bảy tên, bằng chứng vật lý. Sáu ổ cứng T47 – dữ liệu gốc sáu năm. Ai đó lấy cả hai – hoặc hai người khác nhau lấy hai thứ khác nhau. Minh Khang lấy két, ai đó lấy ổ cứng? Hoặc cùng một người – nhưng ai biết cả két T38 và phòng chứng cứ T47?

Ít người biết cả hai.

Cô mở miệng – muốn nói. Dừng. Vì – trong tối, ngồi sàn lạnh, cạnh két trống, cô nghe: gì đó. Không phải bước chân. Không phải cửa. Gì đó – nhẹ hơn, gần hơn. Bên phải.

Tay. Tay anh – chạm tay cô. Không phải chạm kiểu vô tình (chật, tối, vô tình). Chạm – kiểu chạm có chủ ý: ngón tay, mu bàn tay cô, nhẹ. Rồi – nắm. Ngón anh quanh ngón cô – chặt, kiểu chặt cô chưa thấy ở Quân Phong. Mười sáu tuần – mười xăng-ti-mét, bàn giữa, tay không chạm. Gần-nhất-cô-biết: bếp T46 tuần mười hai, ngón chạm ngón nửa giây rồi rút. Bây giờ – nắm. Chặt. Không rút.

Cô – không rút. Ngón cô – trong ngón anh, kiểu trong cô chưa biết: ấm, chặt, kiểu ấm của tay người qua da người. Tay anh – lạnh hơn tay cô (anh ở T47 lâu hơn, T47 cao hơn, lạnh hơn). Ngón dài – cô biết, cô thấy trên bàn bếp T46 nhiều lần, nhưng chưa bao giờ cảm. Bây giờ – cảm. Xương ngón, gân, kiểu tay của người nắm chặt vì không còn gì để nắm ngoài cô.

Cô không nói. Anh không nói. Im – kiểu im khác mọi lần: không phải im lặng bếp T46 (im vì chọn), không phải im lặng hành lang (im vì camera). Im – vì tối, vì nắm tay, vì gì đó giữa hai người mà mười sáu tuần đo bằng xăng-ti-mét và bây giờ đo bằng ngón.

Năm giây. Mười.

– Em lên mười sáu tầng. Anh nói. Thì thầm – kiểu thì thầm khác: gần hơn, thấp hơn, kiểu thì thầm cô nghe bằng cả tai và ngực (gần đến mức cô cảm hơi thở anh trên tóc, kiểu gần cô chưa biết). – Trong tối. Một mình.

Không hỏi tại sao – anh biết tại sao. Vì Minh Khang. Vì cô là kiểu người leo mười sáu tầng cầu thang trong tòa nhà tối để tìm đồng minh. Kiểu người cha cô từng là – ở lại, không chạy, không dừng.

– Trung bảo đi xuống. Cô nói.

– Trung đúng. Anh nói. – Em sai.

– Em biết.

Im lặng. Tay – vẫn nắm, kiểu nắm không lỏng. Tối – vẫn tối, kiểu tối cô bắt đầu quen: mắt không thấy, tai thấy hết. Thở anh – đều hơn bây giờ, kiểu đều Quân Phong, kiểu đều cô biết. Nhưng tay – tay nói khác: chặt, kiểu chặt không đều, kiểu chặt của người đang giữ thứ gì đó anh sợ mất.

– Mười ba năm. Anh nói. Thì thầm – kiểu thì thầm cô phải nghiêng đầu để nghe, và nghiêng = gần, và gần = cô cảm vai anh cạnh vai cô (lúc nào? lúc nào anh ngồi gần đến mức vai chạm – cô không biết, tối che). – Mười ba năm tôi ở tòa nhà này. Tối – tôi biết tối. Mỗi đêm T47 – một mình, mười hai màn hình, tối ngoài cửa sổ. Tối – tôi quen.

Dừng. Cô nghe: anh nuốt, kiểu nuốt nhẹ, kiểu nuốt trước câu khó.

– Nhưng tối này khác. Anh nói. – Vì em ở trong tối.

Cô nghe – và bên trong, gì đó siết. Không phải siết tay (tay cô trong tay anh, đã siết). Siết – ở chỗ khác, chỗ cô không đặt tên, chỗ mười sáu tuần cô tránh bằng phân tích: "Quân Phong nắm tay vì tình huống, không phải vì cảm xúc." "Quân Phong lo vì tôi là chìa khóa phòng chứng cứ, không phải vì tôi." "Quân Phong nói 'vì không' vì anh không có từ nào khác."

Mười sáu tuần cô giải thích Quân Phong bằng logic. Bây giờ – tối, tay nắm tay, vai chạm vai, thì thầm – logic không đủ. Logic không giải thích tại sao tay anh run. Nhẹ – kiểu run cô cảm qua ngón, kiểu run không phải vì lạnh, không phải vì sợ. Run – vì gì đó anh giấu mười ba năm và bây giờ đang rò rỉ qua năm ngón tay.

Cô không nói. Không phân tích. Lần đầu mười sáu tuần – cô để yên thứ gì đó không phân tích. Để yên – kiểu để yên cô làm ở buổi tiệc tầng năm mươi (mùi đàn hương, không phân tích). Nhưng lần này sâu hơn – không phải để yên mùi hương, để yên tay người. Để yên Quân Phong nắm tay cô trong tối và run và cô không rút.


Mười giờ ba mươi lăm.

Tiếng.

Cô giật – nhẹ, ngón siết trong tay anh. Anh siết lại – kiểu siết phản xạ, kiểu siết của người cũng nghe.

Tiếng – từ phía trên. Không phải trong phòng, không phải hành lang T38. Trên – T39? T40? Vang qua trần – bê tông truyền âm, kiểu truyền âm cô biết: bước chân trên sàn tầng trên nghe như gõ nhẹ trên trần tầng dưới.

Bước chân. Nặng – kiểu nặng khác bước chân cô nghe ở cầu thang (nhẹ, giày da, cẩn thận). Nặng – kiểu nặng của người không cần im, kiểu nặng của người biết tòa nhà tối và camera chết và không ai nhìn. Nhanh – kiểu nhanh có mục đích: đi từ A đến B, biết đường, không dò.

Cô đếm – bước: một, hai, ba, bốn, năm, sáu. Dừng. Im – ba giây. Rồi: bảy, tám, chín, mười. Dừng. Kiểu đi của người kiểm tra phòng – đi, dừng, nhìn, đi tiếp.

Anh nắm tay cô – chặt hơn. Thì thầm – gần hơn, sát tai cô, kiểu sát cô cảm hơi thở trên da:

– Tầng ba mươi chín. Hành lang phía đông.

Cô nghe. Tầng ba mươi chín – một tầng trên, kiểu gần cô cảm qua trần: gõ rõ, không mờ. Hành lang phía đông – anh biết vì biết cấu trúc: phòng lưu trữ T38 nằm dưới hành lang phía đông T39.

Bước chân tiếp – mười một, mười hai, mười ba. Rồi dừng. Dài hơn – năm giây, sáu. Ai đó đứng – ở tầng ba mươi chín, phía trên cô và anh, một lớp bê tông giữa. Đứng – và làm gì? Nghe? Nhìn? Mở phòng?

Tiếng – khác. Không phải bước chân. Kim loại – kiểu kim loại cô biết: khóa, kiểu khóa quay, kiểu tiếng ai đó mở khóa cơ (không phải khóa từ – khóa từ chết, fail-safe mở). Khóa cơ – kiểu khóa két. Kiểu khóa phòng đặc biệt.

T39 có gì? Cô nghĩ – nhanh: T39, Aeternum, cô chưa lên. T38 là pháp chế. T39 – cô nhớ: bảng hướng dẫn thang máy, "T39: Tài chính – Kiểm toán nội bộ." Tầng tài chính – đã bị thanh trừng tuần mười hai (chín người sa thải). T39 bây giờ – gần như trống, kiểu trống hậu thanh trừng.

Ai đó ở T39 – mở khóa cơ, trong tối, trong đêm mất điện. Không phải bảo vệ (bảo vệ không có chìa khóa phòng tài chính). Không phải Minh Khang (Minh Khang biết T38, không có lý do lên T39). Ai đó – biết T39, có chìa khóa cơ, đến trong đêm tối để lấy gì đó từ tầng tài chính.

Bước chân lại – nặng, nhanh. Di chuyển – từ phía đông sang phía tây, kiểu di chuyển cô nghe qua trần: gõ, gõ, gõ, dần xa. Rồi – im. Xa. Không nghe nữa.

Cô thở. Nhẹ – kiểu thở cô ép chậm mười phút qua, bây giờ thả. Tay – vẫn trong tay anh, kiểu nắm đã quen, kiểu nắm cô quên mình đang nắm vì bước chân tầng trên chiếm hết.

– Không phải bảo vệ. Cô nói. Thì thầm.

– Không. Anh nói. – Bảo vệ không có chìa khóa cơ T39. Và bảo vệ đi tuần – đi đều, không dừng kiểm tra phòng cụ thể.

– Ai đó mở khóa phòng T39. Cô nói. – Tầng tài chính. Trong tối.

Im lặng – năm giây. Cô nghe: anh nghĩ. Thở – đều, kiểu đều Quân Phong khi tính.

– T39 có phòng lưu trữ riêng. Anh nói. – Hồ sơ tài chính – sổ cái, chứng từ gốc, biên bản kiểm toán nội bộ. Khóa cơ – chìa chỉ có trưởng phòng và CFO.

– CFO nghỉ từ tuần mười hai. Cô nói. – Trưởng phòng tài chính nghỉ cùng đợt.

– Chìa còn lại – ở đâu?

Cô nghĩ. Chìa – CFO mang theo khi nghỉ? Trả lại HR? Giữ? Hoặc – ai đó lấy chìa từ HR khi hệ thống chết. HR tầng mấy – tầng hai mươi tám, cô nhớ. Cửa từ fail-safe – HR cũng mở. Ai đó vào HR, lấy chìa, lên T39, mở phòng lưu trữ tài chính. Kế hoạch – kiểu kế hoạch của người biết mất điện sẽ xảy ra, biết cửa từ sẽ mở, biết chìa ở đâu.

SYS-ADMIN-047 lên lịch mất điện. Ai đó dùng mất điện để vào các phòng. Hai hành động – cùng kế hoạch? Hay SYS-ADMIN-047 tắt điện, và ai đó khác lợi dụng?

Cô nghe – trần, im. Bước chân không quay lại. Ai đó – đã lấy xong, đã đi.

Rồi – tiếng khác.

Không phải bước chân. Không phải khóa. Gì đó – từ xa hơn, phía trên hơn. T40? T41? Cô nghe: không rõ, bê tông lọc, nhưng – nặng. Kiểu nặng của gì đó kéo trên sàn. Kéo – dài, hai giây, ba, rồi dừng.

Anh siết tay cô. Chặt – chặt hơn trước, kiểu chặt phản xạ, kiểu chặt cô cảm: ngón anh siết ngón cô đến mức cô cảm xương. Anh nghe – cùng thứ. Anh biết – tiếng kéo trên sàn trong tòa nhà tối, kiểu tiếng anh nghe ở T47 mười ba năm, kiểu tiếng trong nhật ký vận hành mà Tuấn ghi.

Cô không hỏi. Không cần – vì cô biết: tiếng kéo. Kiểu kéo – không phải kéo đồ vật, kiểu kéo nặng hơn, kiểu kéo có ma sát không đều. Kiểu kéo cô chưa nghe nhưng bản năng gán nghĩa: ai đó kéo ai đó. Trên sàn. Trong tối.

Cô thở – nén, kiểu nén cô dùng khi phân tích dữ liệu đáng sợ (dữ liệu ma, danh sách mười bảy tên, chữ ký trên lệnh sa thải cha). Nén – vì hoảng không giúp, vì phân tích giúp, vì cô là con gái Lâm Hữu Đức và mười năm cô sống bằng phân tích thay vì hoảng.

Tiếng kéo dừng. Im – lâu, mười giây, hai mươi. Cô đếm – trong đầu, kiểu đếm cô dùng khi chờ: một, hai, ba... mười tám, mười chín, hai mươi.

Im.

Rồi – bước chân. Từ phía trên – T39, có thể T40. Nhưng khác: không phải bước chân nặng (người kiểm tra T39). Bước chân này – nhanh hơn, nhẹ hơn, kiểu nhanh của người vội. Vội – kiểu vội xuống, kiểu vội về phía T38.

Anh kéo cô. Nhẹ – kiểu kéo thì thầm, kiểu kéo bằng tay: đứng lên. Cô đứng – chân tê (ngồi lâu, sàn lạnh), đầu gối đau nửa giây. Anh kéo – về phía tường, góc phòng, kiểu góc xa cửa nhất. Đứng – hai người, góc, lưng tường, tay nắm tay.

Bước chân gần hơn. T39 – kiểu gõ qua trần, rõ hơn: đi về phía cầu thang. Ai đó xuống – từ T39 hoặc T40, xuống cầu thang, về phía T38.

Anh thì thầm. Sát tai cô – kiểu sát cô cảm môi anh gần da (không chạm – gần, kiểu gần mười xăng-ti-mét bếp T46 nhưng ở tai thay vì tay). Hơi thở – ấm, nhẹ. Mùi – đàn hương, kiểu đàn hương cô nhận ra từ buổi tiệc tầng năm mươi, kiểu đàn hương cô để yên không phân tích.

– Đừng động. Anh nói. Thì thầm – kiểu thì thầm nhẹ nhất cô nghe, kiểu thì thầm chỉ cô nghe vì gần đến mức chỉ cô nghe. – Họ đang xuống.

Cô đứng. Anh đứng. Góc phòng, tối, tay nắm tay. Bên ngoài – bước chân, cầu thang, gần hơn. Ai đó – đang xuống. Về phía tầng ba mươi tám.

Cô nghe – bước chân, bê tông, vang. Và nghe – tim mình, tim anh (gần đến mức cô cảm qua vai: đập, đều, nhanh hơn bình thường). Hai tim – kiểu hai tim cô chưa nghe cùng lúc, kiểu hai tim trong tối.

Bước chân dừng. Cửa cầu thang T38 – tiếng sắt, nặng, ai đó mở.

Hành lang T38 – bước chân trên thảm, nhẹ hơn bê tông nhưng cô nghe: đi, kiểu đi ngang phòng lưu trữ. Gần – rồi xa. Gần – rồi xa. Ai đó đi qua cửa phòng cô và anh đang đứng – cách một cánh cửa chốt, cách một lớp gỗ.

Cô không thở. Anh không thở. Hai giây – ai đó ngang cửa.

Rồi – xa. Bước chân xa dần. Đi – về phía cuối hành lang T38, phía phòng pháp chế, phía bàn Minh Khang.

Cô thở. Anh thở. Tay – nắm, chặt, kiểu chặt không lỏng dù bước chân đã xa.

Im lặng. Phòng lưu trữ – tối, két trống, hai người góc tường. Ngoài cửa – ai đó, đi, trong hành lang T38, trong tòa nhà tối, trong đêm mà ai đó chọn để tắt mọi thứ.

Năm ngày trước đại hội. Và tối – chưa hết.

Ch.63/80
3.526 từ