Dòng 17
Cô đứng dậy.
Chủ Nhật, tám giờ. Sàn gạch lạnh dưới chân, ánh sáng sáng vào từ cửa sổ hẹp, kiểu sáng Sài Gòn cuối tuần: trắng, gắt, kiểu sáng không hỏi người dưới nó có muốn hay không.
Hai ngày cô ngồi sàn. Hai đêm không ngủ, không ăn, không trả lời. Sổ tay đóng, trang chín mươi bảy, dòng cuối: Không còn ai vô tội. Kể cả tôi.
Cô đứng dậy không phải vì hết đau. Vì hết trống. Kiểu hết trống của người đã ngồi đủ lâu trong phòng tối để biết: ngồi thêm không thay đổi gì, đứng dậy cũng không thay đổi gì, nhưng đứng dậy có hướng.
Tắm. Nước lạnh, kiểu lạnh ống nước căn hộ ngoại ô sáng sớm. Thay áo, sơ mi trắng, quần đen, kiểu mặc cô không nghĩ: mở tủ, lấy cái đầu tiên, mặc. Tóc buộc gọn. Ba lô vai trái, ba thanh nhớ trong túi áo khoác xám.
Cô nhặt điện thoại trên sàn. Lật, màn hình sáng. Tin nhắn QP từ thứ Năm: "Em ổn không?" Đã đọc (cô nhìn tối qua nhưng không mở, bây giờ mở). Không tin nhắn mới. Anh không gửi thêm sau cuộc gọi. Kiểu không gửi anh dùng: biết cô cần thời gian, không ép, không nhắc.
Cô đánh tin nhắn. Tay trái, bàn phím nhỏ, kiểu đánh mười sáu tuần:
"Công viên 23/9, 10 giờ. Đi một mình."
Gửi. Anh đọc ngay, kiểu đọc ngay người chờ tin nhắn mười bốn giờ (kể từ cuộc gọi khuya). Không trả lời. Kiểu không trả lời anh dùng khi đồng ý: không cần "ok," không cần "vâng," im lặng sau khi đọc là có mặt.
Chín giờ bốn mươi lăm. Công viên 23 tháng 9.
Cô đi bộ từ bến xe buýt, kiểu đi bộ cô không dùng mười sáu tuần: không xe máy, không nón bảo hiểm, không vội. Công viên sáng Chủ Nhật, kiểu sáng Sài Gòn cuối tuần: người chạy bộ, trẻ con, cặp đôi, quán cà phê di động, tiếng chim. Kiểu tiếng chim cô không nghe mười sáu tuần vì mười sáu tuần cô nghe tiếng quạt thông gió T47, tiếng thang máy, tiếng bước chân hành lang.
Ghế đá dưới hàng me, góc phía Đông công viên. Cô ngồi. Nắng xuyên qua lá, đốm sáng trên mặt đất, kiểu đốm sáng cô không nhìn từ khi vào Aeternum vì mọi ánh sáng cô nhìn mười sáu tuần đều là đèn huỳnh quang T22, đèn vàng T47, đèn khẩn cấp đỏ đêm mất điện.
Mười giờ lẻ hai. Anh đến.
Cô nhìn, và lần đầu mười sáu tuần: cô nhìn anh dưới ánh nắng.
Mười sáu tuần cô nhìn anh trong bóng tối bếp T46, trong đèn vàng T47, trong hành lang tối cầu thang kỹ thuật, trong bóng tối đêm mất điện khi tay nắm tay. Mười sáu tuần cô nhìn anh qua ống kính, qua màn hình, qua khe cửa. Chưa bao giờ dưới nắng.
Anh khác dưới nắng. Vest đen vẫn là vest đen, nhưng nắng chiếu vào vải và vải không hấp thụ hết, kiểu vải phản chiếu nhẹ ở vai. Tóc đen, nhưng nắng cho thấy vài sợi nâu cô chưa từng thấy trong đèn huỳnh quang. Mắt anh, kiểu mắt mười sáu tuần cô nhìn: không biểu cảm, đều, kiểu đều mười ba năm. Nhưng dưới nắng, kiểu mắt đó có bóng, kiểu bóng mi trên gò má mà đèn T47 không tạo ra.
Anh đứng cạnh ghế đá. Không ngồi. Kiểu đứng anh dùng mười ba năm: đứng trước khi được mời, kiểu đứng thuộc cấp, kiểu đứng dao chờ lệnh.
– Ngồi.
Cô nói. Một từ.
Anh ngồi. Ghế đá, cạnh cô, nửa mét. Kiểu nửa mét hai người dùng ở bếp T46 mười sáu tuần: gần đủ nghe, xa đủ thở. Nhưng đây không phải bếp T46. Đây là công viên, nắng, Chủ Nhật, kiểu Chủ Nhật mười triệu người Sài Gòn đi dạo.
Cô nhìn thẳng phía trước. Hàng me, người chạy bộ, trẻ con. Không nhìn anh.
– Tôi gặp Phúc thứ Năm.
Anh nghe. Không hỏi (anh không hỏi, kiểu không hỏi anh dùng mười ba năm: đợi, nghe, kiểu nghe Đình Viễn dạy).
– Phúc xác nhận. Tuấn giết Khang đêm mất điện. Cảm biến cửa Nexgen ghi: Tuấn quẹt thẻ cầu thang T46 lúc hai mươi mốt giờ bốn mươi bảy, vào phòng kỹ thuật T47 lúc hai mươi hai giờ mười một, ra lúc hai mươi hai giờ mười ba. Hai phút.
Im lặng. Ba giây. Anh ngồi, mắt nhìn thẳng, kiểu nhìn thẳng mười ba năm. Nhưng tay anh trên đùi, kiểu tay thay đổi: ngón trỏ tay phải gõ nhẹ lên đầu gối, một lần, kiểu gõ anh dùng khi xử lý thông tin mà không muốn ai thấy.
– Anh biết.
Cô nói. Không hỏi.
– Tôi biết Tuấn ở B2.
Anh nói. Giọng đều.
– Bản ghi analog. Nhưng tôi không biết Tuấn lên T47 trước.
– Bây giờ anh biết.
– Bây giờ tôi biết.
Im lặng. Gió nhẹ qua hàng me, lá rung, đốm sáng trên mặt đất dời chỗ. Tiếng trẻ con phía xa, kiểu tiếng trẻ con công viên Chủ Nhật, kiểu tiếng hai người ngồi ghế đá không nghe vì đang nói về cái chết.
– Dòng mười bảy.
Cô nói. Hai từ, đều, kiểu đều cô dùng mười sáu tuần khi đưa dữ kiện.
Anh nghe. Không động.
– Danh sách viết tay, két T38. Mười bảy tên. Mười sáu có kết quả: hoàn tất, chuyển giao, hủy. Dòng mười bảy, bút chì, kết quả trống.
Cô quay nhìn anh. Lần đầu từ khi anh ngồi xuống.
– Tên ai?
Hai từ. Cô hỏi, kiểu hỏi cô biết câu trả lời nhưng cần anh nói. Kiểu hỏi mười sáu tuần: hỏi không phải vì không biết, hỏi vì cần nghe từ miệng người trong cuộc.
Anh im. Lâu, kiểu lâu cô đếm: ba giây, năm giây, tám giây, mười giây. Anh nhìn thẳng, hàng me, nắng, kiểu nhìn mười ba năm. Ngón trỏ tay phải không gõ nữa, kiểu không gõ người đã xử lý xong và đang chọn nói hay không.
Mười hai giây.
– Trần Quân Phong.
Ba từ. Giọng đều, kiểu đều mười ba năm, kiểu đều anh dùng khi đọc lệnh, khi ký, khi nói tên người trong hồ sơ mã SP. Nhưng ba từ này là tên anh. Kiểu tên anh nói trên ghế đá công viên, nắng, Chủ Nhật, kiểu nói tên mình trên danh sách mười bảy người mà mười sáu đã có kết quả.
Cô nghe. Biết, kiểu biết cô nghi từ khi anh kể ở T47: "Tôi là phiên bản thay thế cha em." Kiểu nghi khi viết trang chín mươi bảy sổ tay thứ Năm: "Dao cũ chờ bị nhổ." Nhưng nghi khác biết. Biết từ miệng anh: Trần Quân Phong, dòng mười bảy, bút chì, kết quả trống.
– Bút chì.
Cô nói.
– Bút chì. Kiểu bút chì Đình Viễn dùng khi chưa chốt. Mười sáu dòng trước, mực: tên, ngày, kết quả. Dòng mười bảy, bút chì: tên tôi, ngày hai ngàn hai mươi bốn, kết quả trống.
– Kết quả trống. Chờ quyết định.
– Chờ quyết định. Kiểu chờ Đình Viễn dùng ba mươi năm: ghi bút chì, quan sát, chờ. Nếu dao vẫn sắc, xóa bút chì. Nếu dao cùn, viết mực.
Im lặng. Gió, lá me, đốm sáng. Cô nhìn anh, anh nhìn thẳng.
– Anh biết từ bao giờ?
– Diệp An nói.
Anh nói, kiểu nói ngắn.
– An nói Đình Viễn "chuẩn bị thay dao." Tôi kiểm tra két T38, tuần mười bốn, kiểu kiểm tra tôi dùng mười ba năm: mở két, đọc danh sách, thấy dòng mười bảy. Bút chì, tên tôi. Tôi biết.
– Và anh ở lại.
– Tôi ở lại.
Hai từ. Kiểu hai từ anh nói đều, kiểu đều mười ba năm. Nhưng hai từ này khác mười ba năm: mười ba năm anh ở lại vì lệnh, vì Đình Viễn, vì hệ thống. Bây giờ anh ở lại vì cô. Và vì dòng mười bảy bút chì trên danh sách nói: anh sống vượt thời hạn.
– Nếu Đình Viễn xử lý anh, ai tiếp theo?
Cô hỏi. Giọng đều, kiểu đều dữ liệu, kiểu đều cô hỏi khi phân tích quy luật hệ thống. Nhưng anh nghe, kiểu nghe mười sáu tuần: cô không hỏi dữ liệu. Cô hỏi vì sợ.
– Không ai.
Anh nói.
– Tôi là người cuối cùng Đình Viễn tạo ra. Sáu tuổi, trại mồ côi, hai mươi năm. Ông ấy không còn thời gian rèn dao mới từ đầu.
– Tuấn.
Cô nói.
– Tuấn không phải dao Đình Viễn rèn. Tuấn là dao Đình Viễn mua. Kiểu mua khác rèn: rèn cần hai mươi năm, mua cần hợp đồng. Tuấn có em gái bảy tuổi, Đình Viễn trả học phí, nhà ở, an ninh. Tuấn làm việc vì em gái, không vì Đình Viễn. Kiểu khác: tôi không có ai ngoài Đình Viễn, cho đến khi cha em đến. Tuấn có em gái. Dao mua sắc nhưng không trung thành, vì trung thành với người khác.
– Tuấn giữ sổ bốn mươi chín dòng.
– Đúng. Tuấn ghi mọi vi phạm của tôi. Sổ đó không phải bằng chứng Tuấn giữ, sổ đó là bảng điểm Đình Viễn giao Tuấn ghi. Kiểu bảng điểm: đo khi nào tôi hết hữu dụng. Khi đủ dòng, Đình Viễn lấy sổ, gọi cơ quan chức năng hoặc xử lý nội bộ, và Tuấn thế chỗ.
Im lặng. Dài. Gió thổi mạnh hơn, lá me rung, đốm sáng trên mặt đất nhảy. Tiếng xe máy ngoài công viên, tiếng còi, kiểu Sài Gòn Chủ Nhật mười giờ.
Cô nghĩ. Xếp: dòng mười bảy bút chì, năm hai ngàn hai mươi bốn. Anh biết từ tuần mười bốn, kiểu biết mười sáu tuần trước. Anh biết Đình Viễn chuẩn bị thay anh. Và mười sáu tuần đó, kiểu mười sáu tuần anh che chắn cô: anh biết mình sắp bị nhổ mà vẫn ở lại. Vẫn xóa nhật ký. Vẫn nâng bảo vệ. Vẫn nói dối Đình Viễn.
Anh ở lại vì tôi. Biết mình sắp chết vì tôi. Và không nói.
Cô nghĩ và tay trái trên ghế đá siết nhẹ, kiểu siết mười sáu tuần cô dùng khi giận mà không nói. Nhưng không giận. Kiểu không giận cô biết từ thứ Năm: hết giận, hết trống, còn lại một thứ cô không tên.
– Sau anh.
Cô nói.
Anh quay nhìn cô. Lần đầu từ khi ngồi xuống ghế đá.
– Sau tôi, Đình Viễn phải tự tay. Không có dao nữa. Không có IO-07 nữa. Chỉ còn ông ấy, ba mươi năm, và hai bàn tay.
– Ông ấy sẽ tự tay.
Cô nói, kiểu nói không hỏi. Kiểu nói cô biết: Đình Viễn tự tay giết cha cô, tự tay giết Nguyễn Đình Vinh. Ông ta không sợ tự tay. Ông ta dùng dao vì tiện, không phải vì cần.
– Đúng. Nhưng tự tay chậm hơn. Kiểu chậm cô dùng được: mỗi giờ ông ấy tự tay là mỗi giờ cô có để xây.
Xây. Cô nghe từ đó. Kiểu "xây" anh dùng: không phải xây hệ thống, xây bằng chứng. Kiểu xây mười sáu tuần cô và anh và Khang (trước khi Khang chết) và Phúc và Trung và Phương Anh xây: dữ liệu, nhân chứng, danh sách, bốn mươi bảy tỷ.
– Thời hạn.
Cô nói.
– Đã qua. Đình Viễn cho tôi đến hết quý. Quý kết thúc tuần trước. Tôi vẫn ở đây.
– Vì đại hội.
– Vì đại hội phá kế hoạch ông ấy. Bốn mươi bảy tỷ đã nói ra. UBCK đang xem xét. Ông ấy không thể xử lý tôi bây giờ, kiểu không thể vì xử lý thêm người = thêm mục tiêu cho điều tra. Kiểu chậm cô tạo ra.
Im lặng. Cô nhìn anh, nắng, ghế đá. Anh nhìn cô. Lần đầu mười sáu tuần hai người nhìn nhau dưới ánh sáng ban ngày, kiểu nhìn không qua ống kính, không qua khe cửa, không qua bóng tối. Nhìn trực tiếp, nắng trên mặt, kiểu nhìn người bình thường nhìn nhau ở công viên Chủ Nhật.
Mắt anh dưới nắng. Cô thấy: không biểu cảm, đều, kiểu mắt mười ba năm. Nhưng dưới nắng, kiểu mắt đó có thêm thứ cô không thấy trong T47: mỏi. Kiểu mỏi người giữ mặt mười ba năm và bây giờ ngồi ghế đá công viên, nắng, và đường viền mười ba năm mỏng đi nửa milimet. Cô thấy nửa milimet đó vì cô nhìn anh mười sáu tuần, kiểu nhìn biết: mỏi anh không cho ai thấy, mỏi anh giấu bằng đều, bằng im, bằng tường Đông T47.
Cô đưa tay.
Tay trái, kiểu tay trái cô dùng cầm bút, viết sổ, mang ba thanh nhớ. Đưa ra, kiểu đưa phẳng, lòng bàn tay ngửa, trên ghế đá, giữa nửa mét hai người giữ mười sáu tuần.
Anh nhìn tay cô. Hai giây. Kiểu hai giây anh dùng khi xử lý thứ ngoài quy trình: tay cô, lòng bàn tay, nắng, ghế đá. Kiểu thứ mười ba năm T47 không có.
Anh đặt tay vào tay cô. Tay phải, kiểu tay phải anh dùng ký lệnh, viết thư tối qua, cầm bút bi đen trên giấy trắng "Tôi yêu em." Tay anh trên tay cô, kiểu tay lần thứ hai chạm (lần đầu: đêm mất điện, bóng tối, phòng lưu trữ T38, nắm chặt, run). Lần này khác: nắng, công viên, ghế đá. Không bóng tối, không run. Tay đặt, kiểu đặt người chọn.
Cô nắm. Nhẹ, kiểu nhẹ đủ, kiểu nhẹ cô chưa nắm ai từ đám tang cha mười năm trước. Tay anh ấm hơn tay cô (tay cô lạnh, kiểu lạnh hai đêm ngồi sàn gạch). Tay anh, kiểu tay mười ba năm: chai nhẹ ở đốt ngón, kiểu chai người cầm bút nhiều, kiểu chai không phải lao động mà kiểu chai ghi chép. Tay cha cô cũng chai, kiểu chai tay trái, kiểu chai cô nhớ từ năm sáu tuổi khi cha nắm tay cô qua đường.
Cha nắm tay cô bằng tay trái. Cô nắm tay anh bằng tay trái. Di truyền, kiểu di truyền không có trong gen: di truyền thói quen, kiểu thói quen cha truyền cho con qua mười năm sống chung, kiểu truyền cô mang theo mười năm sau khi cha chết.
– Chúng ta không chờ nữa.
Cô nói. Bốn từ, giọng đều, kiểu đều cô dùng mười sáu tuần. Nhưng tay nắm tay anh trên ghế đá, nắng, công viên 23 tháng 9, Chủ Nhật.
Anh nghe. Không nói. Nắm lại, kiểu nắm anh dùng lần đầu đêm mất điện: chặt, nhưng lần này không run. Kiểu không run người đã quyết.
Chúng ta không chờ nữa. Bốn từ. Kiểu bốn từ hai người ngồi ghế đá công viên, nắng Sài Gòn Chủ Nhật, tay nắm tay, kiểu hai người bình thường mà không ai đi ngang biết: một người là con dao mười ba năm trên danh sách bút chì, một người là con gái người xây hệ thống giết người. Hai người nắm tay dưới nắng, lần đầu tiên.
Không chờ nữa. Nghĩa là: không chờ Đình Viễn hành động trước. Không chờ UBCK kết luận. Không chờ ai đó khác giải quyết. Cô và anh. Bây giờ.
Nắng Sài Gòn mười giờ, gắt, kiểu gắt không tha ai. Đốm sáng qua lá me nhảy trên tay hai người nắm nhau, kiểu nhảy không biết hai bàn tay đó sẽ làm gì ngày mai.