Mất tích lần hai
Hai mươi giờ mười bốn. Thứ Sáu. T47. Văn phòng.
Mười hai màn hình – bật lại từ sáng (lưới phục hồi năm giờ bốn mươi bảy). Anh ngồi – bàn, ghế, kiểu ngồi mười ba năm: lưng thẳng, tay trên bàn phím, mắt trên màn hình. Nhưng – khác: mười hai màn hình sáng mà anh không nhìn màn hình nào. Nhìn – điện thoại trên bàn, kiểu nhìn anh dùng khi chờ: màn hình đen, không tin nhắn, không cuộc gọi.
Minh Khang – hai mươi hai giờ ba mươi phút kể từ mất điện. Không xuất hiện.
Anh đã gọi – bốn lần. Lần một: một giờ sáng (sau khi rời sảnh). Lần hai: sáu giờ (sau khi lưới phục hồi). Lần ba: mười hai giờ. Lần bốn: mười tám giờ. Bốn lần – cùng kết quả: tắt máy, kiểu tắt không phải hết pin (hết pin = chuyển hộp thư ngay, tắt máy = đổ chuông dài rồi hộp thư). Ai đó tắt – hoặc ai đó tắt giúp.
Anh mở – hệ thống thẻ từ, quyền SYS-ADMIN-047. Tìm: Vũ Minh Khang, mã nhân viên AT-2021-0238. Nhật ký thẻ từ – cuộn, tìm ngày thứ Năm tuần mười bảy.
Quẹt cuối cùng: T38, hai mươi mốt giờ ba mươi. Trước mất điện mười bảy phút.
Sau đó – không. Không quẹt thang máy (thang máy chết), không quẹt cầu thang (cầu thang mở tự do khi mất điện), không quẹt cổng (cổng tự mở). Thẻ từ – chết từ hai mươi mốt giờ ba mươi. Kiểu chết của thẻ mất nguồn (đầu đọc cần điện), hoặc kiểu chết của thẻ nằm trong túi người không di chuyển.
T38, hai mươi mốt giờ ba mươi. Minh Khang ở T38 khi điện tắt.
Nhưng – cô. Cô đến T38 khoảng hai mươi hai giờ ba mươi (anh biết vì gặp cô cầu thang T38, cô leo từ T22 – mười sáu tầng, một mình, trong tối). Cô vào phòng lưu trữ T38 – anh dẫn, chốt cửa. Khang – không có ở đó. Két T38 – mở, sổ bìa cứng mất, ba thanh nhớ mất. Khang ở T38 lúc hai mươi mốt giờ ba mươi, cô đến lúc hai mươi hai giờ ba mươi – một giờ. Khang rời T38 trong một giờ đó, trong bóng tối, khi cầu thang mở tự do, khi không ai biết ai ở đâu.
Anh nghĩ – kiểu nghĩ mười ba năm: liệt kê, loại trừ.
Khang lấy két T38 (sổ bìa cứng, ba thanh nhớ). Thời gian – giữa hai mươi mốt giờ bốn mươi bảy (mất điện) và hai mươi hai giờ ba mươi (cô đến). Bốn mươi ba phút – đủ để mở két (Khang có chìa), lấy, đóng, đi.
Đi đâu?
Lên T47 – chín tầng, mười lăm phút. Lấy mười bốn ổ cứng phòng chứng cứ (biết vị trí từ đêm đại hội lần một). Khang có ba lô – anh nhớ: ba lô đen, kiểu ba lô Khang mang mỗi ngày, đủ lớn cho mười bốn ổ cứng (3.5 inch, mỗi ổ khoảng 600 gram, tổng chín ký – nặng nhưng vừa). Hai mươi ba bìa hồ sơ – không vừa ba lô, trừ khi Khang bỏ bìa lấy giấy xếp. Bảy thanh nhớ nhỏ – túi áo. Ba đĩa ghi âm – túi quần. Phong bì nâu – kẹp trong bìa hồ sơ.
Anh tính – kiểu tính anh dùng mười ba năm khi đánh giá: Khang lên T47 lúc hai mươi hai giờ (sau khi lấy két T38), mười lăm phút leo. Anh ở T47 lúc hai mươi hai giờ (kiểm tra phòng chứng cứ, thấy sáu ổ mất). Anh xuống tìm Khang khoảng hai mươi hai giờ mười. Nếu Khang lên sau khi anh xuống – Khang đến T47 lúc hai mươi hai giờ mười lăm, lấy tám ổ còn lại (anh thấy sáu mất, Tuấn thấy mười bốn mất lúc hai mươi hai giờ lẻ năm – nghĩa là ai đó lấy tám ổ còn lại giữa hai mươi hai giờ mười và hai mươi hai giờ lẻ năm). Năm phút – vội, nhưng nếu biết vị trí, nếu có ba lô, nếu nhanh.
Khớp. Khang – có thể.
Hoặc – không phải Khang. Đình Viễn có người riêng (Tuấn nói: "mắt riêng"). Người riêng – biết T47 (vì Đình Viễn xây), biết phòng chứng cứ (vì Đình Viễn biết từ lâu, kiểu biết Tuấn nói đêm qua). Người riêng lấy – Khang lấy két T38, chạy, trùng thời gian. Hai nhóm – cùng đêm, cùng mất điện, cùng mục tiêu: bằng chứng.
Anh đặt điện thoại xuống. Nhìn – mười hai màn hình, kiểu nhìn mười ba năm nhưng không thấy. Thấy: Khang, ba lô đen, pháp chế T38, kiểu Khang anh biết bốn năm: áo nhăn, mắt kính lệch, cà phê đen, ký bảy bản cam kết bảo mật mà mỗi bản = một người biến mất. Khang – "ít xấu nhất", Khang tự nói. Kiểu ít xấu có ba lô sẵn, có kế hoạch, có ba phe để chơi.
Khang lấy ổ cứng rồi chạy. Anh nghĩ. Hoặc – Khang bị mang đi trước khi kịp chạy.
Hai kịch bản. Cùng kết quả: Khang không ở đây.
Hai mươi mốt giờ. T47, hành lang gỗ sồi.
Tuấn – đứng ngoài cửa văn phòng anh, sổ đen trên tay, kiểu đứng Tuấn dùng mười ba năm: thẳng, chờ, không gõ cửa (Tuấn không gõ – Tuấn đứng, anh biết Tuấn ở đó vì mười ba năm anh biết khi nào Tuấn đứng ngoài cửa).
Anh nhìn Tuấn qua cửa mở. Tuấn nhìn anh – ánh đèn vàng hành lang gỗ sồi (đèn bật lại từ sáng, T47 sáng như mọi đêm, kiểu sáng anh biết mười ba năm nhưng đêm qua tối).
— Khang. Anh nói.
Tuấn bước vào. Đứng – cạnh bàn, không ngồi (Tuấn không ngồi trong văn phòng anh – mười ba năm, quy tắc không nói mà cả hai biết).
— Ba mươi sáu giờ. Tuấn nói. – Không thẻ từ, không điện thoại, không về nhà.
— Nhà.
— Tôi kiểm tra. Tuấn nói. – Hẻm 47 Nguyễn Trãi, phòng 3B. Khóa, tối, thùng thư đầy. Không ai ra vào từ thứ Năm.
Anh nghe. Tuấn kiểm tra – kiểu kiểm tra anh không bảo nhưng Tuấn tự làm, kiểu Tuấn dùng mười ba năm: đoán trước anh cần gì, làm trước khi anh nói.
— Xe.
— Bãi xe Aeternum, B1 ô 47. Tuấn nói. – Xe Khang – Mazda 3 trắng, 51G-389.12. Vẫn ở đó. Bụi mỏng trên kính – từ tối thứ Năm, không ai lái.
Anh nghe. Xe ở bãi – Khang không lái xe đi. Nhà khóa – Khang không về nhà. Điện thoại tắt – Khang không liên lạc. Gần một ngày – kiểu gần một ngày anh biết: hoặc chủ động (Phúc – tự biến mất, chuẩn bị trước, không để lại dấu vết), hoặc bị động (Bình – rơi từ T30, không chuẩn bị, không lựa chọn).
— Khang có thể tự biến mất, – Tuấn nói. Giọng đều, kiểu đều mười ba năm. – Giống Phúc. Chuẩn bị trước, đi không báo. Két T38 trống = Khang lấy hồ sơ + đi. Ba lô mất = Khang mang đồ đi. Xe để lại = không muốn bị theo dõi qua biển số.
Anh nghe. Hợp lý – kiểu hợp lý Khang: tính toán, chuẩn bị, ba phe. Khang gửi bản sao ổ cứng cho luật sư + nhà báo trước đại hội, giữ bản gốc cho mình (vũ khí). Đêm mất điện – cơ hội: mở két, lấy phòng chứng cứ, chạy. Kiểu chạy có kế hoạch: mất điện = không bị quay, cầu thang mở = thoát tự do, ba lô sẵn = gọn.
— Hoặc. Anh nói.
Tuấn nhìn anh. Im – hai giây. Rồi:
— Hoặc bị biến mất. Giống Bình.
Im lặng. Văn phòng T47 – đèn vàng, gỗ sồi, mười hai màn hình. Hai người – kiểu hai người mười ba năm: anh ngồi, Tuấn đứng. Nhưng đêm nay – kiểu thế khác: anh hỏi thứ anh không biết, Tuấn trả lời thứ cả hai không muốn nghe.
Bị biến mất – nghĩa là: ai đó đến T38 trong bóng tối, kiểu đến anh biết (bước chân nặng T39, tiếng kéo T40, máu trên bậc thang). Ai đó – dùng đêm mất điện, dùng bóng tối, dùng kiểu phương thức anh đã thấy: phòng kỹ thuật, ban công, bốn mươi tầng. Nhưng Khang – không ở T39, không ở ban công T40. Máu T39 – nạn nhân chưa xác định. Khang – ở T38, rồi không ở đâu.
— Phòng chứng cứ. Anh nói. – Mười bốn ổ cứng mất. Khang mất cùng đêm.
— Tôi biết anh đang nghĩ gì. Tuấn nói.
Anh nhìn Tuấn – trong đèn vàng, kiểu nhìn anh dùng mười ba năm khi cần Tuấn nói thẳng.
— Anh nghĩ Khang lấy mười bốn ổ cứng rồi chạy. Tuấn nói. – Vì Khang biết vị trí. Vì Khang có ba lô. Vì Khang chơi ba phe – anh, Đình Viễn, phe ngoài. Phe ngoài = luật sư + nhà báo. Khang mang bản gốc ra ngoài = vũ khí pháp lý.
Anh gật – nhẹ.
— Hợp lý. Tuấn nói. Dừng. – Nhưng.
Tuấn mở sổ – sổ đen, trang cuối. Giơ – cho anh nhìn, kiểu giơ Tuấn dùng khi cho anh thấy thứ Tuấn ghi.
Dòng năm mươi. Anh đọc – bút đen, chữ Tuấn, đều:
"Đêm mất điện. 22h03. Ai đó quẹt thẻ SYS-ADMIN dự phòng tại B2. Không phải mã anh (047). Mã 049."
Anh đọc – và dừng. SYS-ADMIN-049. Mã T49 – Đình Viễn. Thẻ dự phòng – kiểu thẻ anh biết: mỗi mã SYS-ADMIN có hai thẻ (chính + dự phòng), dự phòng nằm trong két từng tầng. Bình thường – thẻ dự phòng không dùng, vì thẻ chính luôn hoạt động. Nhưng đêm mất điện – đầu đọc thẻ từ tắt, trừ đầu đọc B2 (B2 có lưu điện riêng cho phòng máy chủ, kiểu lưu điện anh không kiểm soát vì thuộc hạ tầng T49). Ai đó dùng thẻ SYS-ADMIN-049 tại B2 lúc hai mươi hai giờ lẻ ba – mười bốn phút trước khi cô và anh đến T39.
Anh nhìn Tuấn.
— Đình Viễn không xuống B2. Tuấn nói. Giọng – đều, kiểu đều khi nói thứ quan trọng. – Nhưng thẻ 049 xuống B2. Ai giữ thẻ dự phòng 049 – tôi không biết. Két T49 – chỉ Đình Viễn mở.
Đình Viễn. Anh nghĩ. Thẻ 049, B2, hai mươi hai giờ lẻ ba. Mười một phút trước khi Tuấn nói bóng người trên bản ghi cũ (nếu có). B2 – tầng hầm, phòng kỹ thuật, Hùng nằm mười bốn ngày. Ai đó – dùng thẻ Đình Viễn xuống B2 đêm mất điện. Làm gì? Kiểm tra Hùng? Mang Hùng đi? Hay – ai đó hoàn toàn khác, dùng thẻ 049 từ két T49 mà Đình Viễn không biết.
Quá nhiều khả năng. Anh ghét – mười ba năm anh sống bằng "biết", ba ngày nay anh sống bằng "hoặc."
— Ba ngày. Anh nói.
— Ba ngày. Tuấn gật. – Đại hội thứ Ba.
Ba ngày – đại hội cổ đông Aeternum Group. Kiểm toán Ernst & Young sẽ trình bày sơ bộ. Cổ đông sẽ bỏ phiếu. Và – chứng cứ phải có, nhân chứng phải có, luật sư phải có. Nhưng: chứng cứ gốc mất (phòng chứng cứ trống). Nhân chứng chính biến mất (Khang – gần một ngày). Luật sư có bản sao (Khang gửi trước). Phúc có (nhân chứng sống, Bình Dương). Cô có ổ cứng bản sao (2022–2025, trong túi áo khoác).
Đủ? Anh không biết. Kiểu "không biết" lần thứ hai trong ba ngày – lần đầu trước mặt cô, trong phòng lưu trữ T38, tối, kiểu "không biết" của người đã mất công cụ. Lần này – trước mặt Tuấn, trong T47, sáng, kiểu "không biết" của người mất đồng minh.
Khang – đồng minh? Anh nghĩ. Khang chơi ba phe. Khang gửi bản sao cho Diệp An để đổi an toàn. Khang ký bảy bản cam kết bảo mật cho bảy người biến mất. Khang – "ít xấu nhất" – nhưng ít xấu có ba lô sẵn, có kế hoạch chạy, có gần một ngày biến mất.
Đồng minh – kiểu đồng minh anh ghét: loại có điều kiện, loại tính toán, loại ở khi có lợi và đi khi cần. Khác – cô. Cô ở. Cô leo mười sáu tầng trong tối. Cô nắm tay anh trong phòng lưu trữ T38 và không rút. Cô chạm lưng ghế anh khi đi ngang sảnh – hai tiếng, kiểu hai tiếng anh gõ, kiểu nói "tôi vẫn ở đây."
Cô vẫn ở đây.
Anh gạt – kiểu gạt mười ba năm: không nghĩ cô lúc này, nghĩ Khang, nghĩ mất điện, nghĩ ba ngày. Nhưng – không gạt được hoàn toàn, kiểu không gạt được từ đêm anh nắm tay cô trong tối, kiểu không gạt được vì tay anh nhớ.
— Xuống T38. Anh nói. Đứng.
T38. Hai mươi mốt giờ hai mươi.
Hành lang T38 – đèn ống trắng, thảm, kiểu hành lang anh biết: pháp chế, lưu trữ, Khang. Cửa phòng pháp chế – khóa (giờ làm việc đã qua). Anh mở – thẻ SYS-ADMIN-047, kiểu mở anh dùng mười ba năm: quyền mở mọi cửa.
Phòng pháp chế T38. Tối – anh bật đèn.
Bàn Khang – góc phải, cạnh cửa sổ. Anh đi – đến bàn, đứng, nhìn.
Cà phê – cốc giấy, trên bàn, nắp đậy. Anh chạm – lạnh, kiểu lạnh hai ngày. Cà phê bên trong – đen, đặc (nước bốc hơi, còn cặn). Khang uống cà phê đen – anh biết, vì bốn năm anh xem Khang qua mười hai màn hình: cà phê đen, không đường, cốc giấy từ máy tầng ba mươi bảy.
Máy tính xách tay – trên bàn, đóng, đèn pin chết (không nhấp nháy, kiểu đèn pin hết từ lâu – pin hai ngày nếu ngủ, ít hơn nếu chạy). Dây sạc – cắm ổ, nhưng không cắm máy (kiểu không cắm của người dùng máy trên pin, kiểu Khang dùng khi không muốn kết nối mạng công ty qua ổ điện – vì mạng điện nội bộ có thể giám sát thiết bị qua bộ chuyển đổi thông minh T49).
Cặp da – dưới bàn, nâu, cũ (kiểu cặp da Khang mang bốn năm, cùng kiểu cặp anh nhớ từ mười hai màn hình). Mở – anh mở: bên trong, hồ sơ (hai bìa, pháp chế thường, không quan trọng), bút, sổ tay nhỏ (trống – Khang không ghi sổ tay, Khang ghi trong đầu).
Ba lô – không có. Ba lô đen Khang mang mỗi ngày – không ở đây. Kiểu không có của người mang ba lô đi. Mang đi – chủ ý, vì cặp da để lại, máy tính để lại, cà phê để lại. Ba lô – thứ Khang chọn mang.
Anh đứng – bàn Khang, đèn trắng, hai mươi mốt giờ hai mươi sáu. Nhìn – cà phê nguội, máy tính chết, cặp da cũ. Bàn – kiểu bàn của người rời đi giữa chừng: cà phê chưa uống hết, máy chưa tắt hẳn, đồ chưa dọn. Kiểu rời đi – vội, hoặc bị vội.
Người đi mà đồ ở lại.
Anh nghĩ – và hai kịch bản, lại: Khang chạy (lấy ba lô, lấy két, lấy phòng chứng cứ, để lại cặp + máy vì không cần, vì ba lô đầy ổ cứng rồi). Hoặc – Khang bị mang đi (ai đó đến T38 trong bóng tối, Khang không kịp lấy gì ngoài ba lô trên vai, cặp + máy + cà phê = bị bỏ lại).
Chạy – kiểu Phúc: tự chọn, tự đi, chuẩn bị trước. Bị mang đi – kiểu Bình: không chọn, không chuẩn bị, bước chân nặng trên cầu thang.
Anh đặt tay – trên máy tính Khang, kiểu đặt anh dùng khi đánh giá: lạnh, nhựa, pin chết. Bốn năm Khang ngồi bàn này, bốn năm Khang ký cam kết bảo mật cho bảy người biến mất, bốn năm Khang nói "ít xấu nhất" và chơi ba phe. Bây giờ – bàn trống, kiểu trống anh thấy hai lần trong mười ba năm: bàn Đức (mười năm trước, cũng cà phê nguội, cũng máy tính, cũng người đi mà đồ ở lại), và bây giờ – bàn Khang.
Cha cô cũng ngồi bàn này. Anh nghĩ. Không phải bàn này – tầng này, kiểu tầng cô biết, kiểu tầng cha cô làm việc trước khi bị anh ký lệnh sa thải. T38, pháp chế, bàn góc. Cha cô – bàn trái, Khang – bàn phải. Kiểu đối xứng anh ghét: cùng tầng, cùng phòng, cùng biến mất.
Anh bỏ tay khỏi máy tính. Quay – ra cửa. Tuấn đứng ngoài – hành lang, sổ đen, chờ. Kiểu chờ Tuấn – đều, mười ba năm.
— Xe Khang ở bãi. Anh nói. – Khang không lái đi. Không về nhà. Không liên lạc. Ba lô mất. Cặp và máy tính ở lại.
Tuấn nghe. Gật – nhẹ.
— Khang đi hay Khang bị đi. Anh nói. Không hỏi – suy luận to.
— Nếu Khang đi, – Tuấn nói. Chậm – kiểu chậm Tuấn dùng khi cân nhắc nên nói gì. – Khang mang bằng chứng gốc ra ngoài. Mười bốn ổ cứng + hồ sơ két. Luật sư có. Nhà báo có. Đại hội thứ Ba – Khang xuất hiện hoặc gửi qua trung gian. Khang – vẫn sống, vẫn có bài.
Anh gật.
— Nếu Khang bị đi, – Tuấn nói. Dừng – kiểu dừng nặng hơn. – Bằng chứng gốc ở đâu? Người giữ Khang cũng giữ ổ cứng. Và – đại hội thứ Ba, không ai có bản gốc. Chỉ bản sao.
Anh nghe – và hiểu: nếu Khang bị mang đi, mười bốn ổ cứng cũng bị mang đi. Bản gốc – mất. Đại hội – chỉ còn bản sao (cô giữ 2022–2025), nhân chứng (Phúc), kiểm toán (Phương Anh). Đủ để nghi vấn – nhưng không đủ để kết tội. Bản gốc = bằng chứng pháp lý, bản sao = tham khảo.
Ba ngày.
Anh nhìn Tuấn – hành lang T38, đèn trắng, gỗ sồi. Và – hỏi thứ anh đã muốn hỏi từ đêm mất điện:
— Mã 049. B2. Hai mươi hai giờ lẻ ba.
Tuấn nhìn anh. Không ngạc nhiên – kiểu không ngạc nhiên Tuấn dùng khi anh hỏi thứ Tuấn biết anh sẽ hỏi.
— Tôi ghi vì nhật ký đầu đọc B2 còn. Tuấn nói. – Lưu điện riêng. Đầu đọc B2 ghi mọi thẻ quẹt – kể cả khi tòa nhà tối. Mã 049 – thẻ dự phòng từ két T49.
— Ai.
— Tôi không biết ai giữ thẻ dự phòng 049. Tuấn nói. – Két T49 – chỉ Đình Viễn mở. Nhưng –
Tuấn dừng. Nhìn anh – trong đèn trắng, kiểu nhìn Tuấn dùng khi nói thứ thay đổi mọi thứ.
— Mã 049 cũng quẹt T38. Hai mươi mốt giờ năm mươi hai. Năm phút sau khi Khang quẹt.
Anh nghe – và bên trong, kiểu bên trong anh kiểm soát mười ba năm: lạnh hơn. T38, hai mươi mốt giờ năm mươi hai – năm phút sau Khang. Ai đó – dùng thẻ Đình Viễn đến T38 năm phút sau Khang, trước mất điện (hai mươi mốt giờ bốn mươi bảy). Đến – và sau đó, mất điện, tối, không nhật ký. Khang biến mất.
Năm phút. Ai đó theo Khang đến T38.
— Ba ngày. Anh nói. Lần thứ hai đêm nay – kiểu lần thứ hai của người đếm ngược.
Tuấn gập sổ. Kiểu gập mười ba năm – nhanh, đều, xong.
— Dòng năm mươi mốt. Tuấn nói. – Mã 049 quẹt T38 năm phút sau Khang. Đêm mất điện.
Anh quay – đi, hành lang T38, kiểu đi không quay lại. Phía sau – bàn Khang, cà phê nguội, máy tính chết, cặp da cũ. Phía trước – ba ngày, kiểu ba ngày anh chưa biết sẽ đủ hay thiếu.
Và – trong đầu, kiểu trong đầu anh không cho phép mười ba năm: cô chạm lưng ghế anh. Hai tiếng. Tôi vẫn ở đây.
Ba ngày. Cô vẫn ở đây. Khang – không.