Thành phố mới của em
Sáng ở Đà Lạt có sương.
Không phải loại sương mỏng tan nhanh như Sài Gòn sau mưa, mà sương thật, dày, trắng đục, phủ kín con hẻm nhỏ nhìn ra hồ Xuân Hương đến mức cô không thấy cây bàng đầu ngõ. Cô đứng ở ban công tầng hai, phòng trọ nhà bà Sáu, phòng cuối hành lang, ban công nhỏ vừa đủ một người đứng, hai tay ôm ly cà phê nóng, hơi bốc trắng hoà vào sương.
Bốn tuần rồi.
Bốn tuần kể từ ngày cô bước xuống sân bay Liên Khương, kéo vali trên đường nhựa lạnh, lên taxi chạy qua đèo vào thành phố. Bốn tuần kể từ ngày cô nhìn căn phòng trọ lần đầu, nhỏ, tường trắng, giường đơn, bàn gỗ cũ, cửa sổ mở ra hẻm, và nghĩ: ở đây em thở được.
Cô thở được thật. Hầu hết các ngày.
Bảy giờ mười lăm. Mặc áo len xám, quấn khăn, đội mũ len, lạnh mười sáu độ, lạnh hơn Sài Gòn mười hai độ, lạnh đủ để má đỏ và mũi hồng và tay phải giữ chặt cốc cà phê mua ở quán đầu hẻm. Quán nhỏ, bà chủ tên Năm, pha bằng phin nhôm, đen, nóng, không đường. Cô uống nóng. Luôn uống nóng.
Xe máy chạy mười phút đến văn phòng. Đường Bùi Thị Xuân, phường ba, dốc nhẹ, hai bên thông, sương chưa tan. Miền Sương Creative nằm trong căn nhà hai tầng sơn trắng, cầu thang ngoài, tầng hai là văn phòng. Cửa gỗ, không khoá mã, không thẻ từ. Cô đẩy cửa, mùi gỗ thông và cà phê.
Năm người. Bàn chung lớn, không vách kính, không phòng riêng. Cửa sổ nhìn ra đồi thông, không phải cửa sổ nhìn ra phòng ai. Chỉ thông, sương, và trời.
Chị Hà đã ngồi ở đầu bàn, tóc búi, kính tròn, áo len nâu, laptop mở. Founder. Cựu agency Sài Gòn, bỏ về Đà Lạt ba năm trước. Chị nói ít, viết nhiều, cười nhẹ khi đọc bản nội dung hay.
– Sáng nay lạnh quá hén.
– Dạ.
– Em viết xong bản du lịch Tây Nguyên chưa?
– Dạ, chiều nay em gửi chị.
– Chậm cũng được. Ở đây không ai chạy hạn chót kiểu Sài Gòn. Viết cho nó tốt thôi.
Viết cho nó tốt thôi. Cô nghe, và nhớ một câu khác: "Để nó thở." Nhớ giọng khác. Nhớ người khác nói câu đó, bên bản in, bút trong tay, nghiêng đầu.
Cô không nhớ. Cô đang không nhớ.
Ngồi xuống. Mở laptop. Viết.
Cô thích Đà Lạt.
Thích buổi sáng sương mù, thích buổi chiều nắng vàng xuyên qua tán thông, thích chợ đêm cuối tuần, bắp nướng mỡ hành, sữa đậu nành nóng, đèn vàng treo dọc con dốc. Thích tiệm sách cũ trên đường Nguyễn Văn Trỗi, giá gỗ, mùi giấy cũ, ông chủ không hỏi mua gì chỉ gật đầu khi cô đọc xong một chương rồi đặt lại. Thích phòng trọ nhỏ, tường trắng, sàn gạch, tiếng mưa đêm rõ hơn Sài Gòn vì không có tiếng xe. Thích con dốc từ văn phòng về nhà lúc chiều, nắng xuyên qua thông, rải vệt vàng trên mũ len, không khí lạnh ngọt, mùi đất ẩm sau mưa trưa.
Bốn tuần, cô đã có quán quen, đường quen, người quen gật đầu. Cô Bảy bán bánh mì biết cô ăn xíu mại không ớt. Bà Năm biết cô uống đen nóng, không đường, ly nhỏ. Chị bán hoa ở chợ đêm biết cô hay đứng ngắm cúc vàng nhưng chưa bao giờ mua.
Quen. Khác quen ở Sài Gòn, ở đây quen là nhẹ, là thoải mái, là không phải giấu gì.
Thích vì ở đây không ai hỏi "sao chưa có người yêu?". Không ai hỏi "bao giờ về lại Sài Gòn?". Không ai hỏi gì, vì ở đây ai cũng đến từ nơi khác, ai cũng có thứ bỏ lại, ai cũng hiểu rằng không hỏi là tử tế.
Cô viết tốt hơn. Chị Hà nói, "em viết mềm hơn, có hơi thở". Ở đây cô viết về du lịch, về cà phê, về đồi, về những ngôi nhà nhỏ trong sương. Viết chậm, không bị gạch, không bị sửa trắng, không bị ba chữ trên giấy nhớ thay mười phút ngồi cạnh giải thích.
Ở đây, cô được viết kiểu cô.
Nhưng tối.
Tối, khi năm người đã về, khi văn phòng tắt đèn, khi cô chạy xe máy qua con dốc về hẻm, khi mở cửa phòng trọ, khi bật đèn bàn, khi pha cà phê nóng bằng phin nhỏ trên bàn gỗ cũ, tối, cô nghĩ.
Không phải nghĩ nhiều. Chỉ, khi nước cà phê nhỏ giọt xuống ly, cô nghe tiếng nhỏ giọt, và nhớ tiếng máy cà phê tầng mười hai. Không phải nhớ máy. Nhớ người đứng cạnh.
Cô ngồi ở bàn, ly cà phê trước mặt, cửa sổ phòng trọ mở ra hẻm, nghe tiếng xe máy xa, tiếng ai đó gọi tên ai đó, tiếng gió lạnh luồn qua khe cửa. Đèn bàn nhỏ chiếu vệt vàng lên mặt gỗ, giống đèn bàn cửa sổ tầng mười hai. Không, không giống. Đèn này khác. Bàn này khác. Tất cả khác.
Uống một ngụm. Nóng. Đắng nhẹ.
Anh uống cà phê đen, nóng, không đường. Em biết từ tháng thứ ba.
Cô đặt ly xuống. Nhìn bức tường trắng đối diện. Không có vách kính. Không có phòng ai phía bên kia. Chỉ tường trắng, sạch, trống.
Ở Sài Gòn, cô ngồi bàn cửa sổ, nhìn ra thấy phòng anh qua vách kính. Mỗi tối, hai ngọn đèn đối diện nhau, hai người ngồi cùng tầng mà không nói gì ngoài công việc. Ở đây, cô ngồi bàn gỗ cũ, nhìn ra thấy tường trắng. Tường trắng không làm cô đau. Nhưng cũng không ấm.
Có những tối cô nghĩ: nếu cô ở lại, bây giờ cô đang ngồi đâu? Đang nhìn phòng anh qua vách kính. Đang đợi năm phút sau anh mới về. Đang viết bức thứ một trăm mười một, một trăm mười hai, một trăm mười ba, viết mãi, không gửi mãi, đau mãi.
Cô đã chọn đúng. Cô biết. Nhưng chọn đúng không có nghĩa là không nhớ.
Cô không viết email nữa.
Tài khoản công ty đã khoá, ba mươi ngày sau khi nghỉ, hệ thống tự xoá. Folder D nằm trên máy chủ, trong hộp thư không còn ai đăng nhập, trong cái tên một chữ mà chỉ cô biết. Một trăm mười bức thư. Sẽ biến mất.
Cô biết. Cô đã viết trong bức cuối: "Máy chủ công ty sẽ xoá tài khoản em sau ba mươi ngày. Folder D sẽ biến mất." Cô biết khi viết. Biết khi đăng xuất lần cuối. Biết khi nhìn màn hình đăng nhập hiện lên "phiên đã kết thúc".
Biết, và để mặc. Vì giữ lại để làm gì? Một trăm mười bức thư gửi người không biết mình có hộp thư. Giữ lại, đọc lại, đau lại. Cô không muốn đau nữa. Cô đã đau đủ rồi. Gần ba năm. Đủ rồi.
Đôi khi cô tự hỏi, ba mươi ngày đã qua chưa? Hệ thống đã xoá chưa? Folder D còn không? Rồi cô lắc đầu. Không quan trọng. Anh sẽ không bao giờ mở. Anh sẽ không bao giờ biết.
Nên cô viết nhật ký tay.
Cuốn sổ nhỏ, bìa vải xanh đậm, mua ở tiệm sách đường Nguyễn Văn Trỗi. Viết bằng bút bi đen, mỗi tối, trước khi ngủ. Viết ít hơn email, vì thư viết cho anh, nhật ký viết cho mình.
Trang hôm nay:
"Hôm nay em ổn. Chị Hà khen bản du lịch Tây Nguyên. Trưa ăn bánh mì xíu mại ở tiệm cô Bảy, ngon, nóng, ăn đứng ở lề đường vì quán không có ghế. Chiều nắng, đi bộ về qua hồ, nước hồ xanh hơn mọi ngày. Tối pha cà phê, đọc sách.
Hôm nay em không nghĩ đến anh.
(Nói dối.)"
Cô đóng sổ. Đặt bút. Nhìn bìa xanh đậm, khác sổ da nâu. Khác người nhận. Khác mọi thứ.
Nhưng vẫn viết. Vì cô là kiểu người viết, khi vui, khi buồn, khi ổn, khi nói dối rằng ổn. Folder D hay nhật ký tay, khác nhau ở chỗ một trăm mười bức thư có tên người nhận, còn nhật ký thì không.
Hoặc có. Cô chỉ không viết ra.
Điện thoại rung. Gia Hân.
"Cậu ổn không?"
Cô cười nhẹ, Gia Hân hỏi câu này mỗi ba ngày. Đều. Như đồng hồ. Như sợ nếu không hỏi, cô sẽ biến mất trong sương Đà Lạt.
"Ổn. Lạnh. Đẹp."
Ba chữ. Cô gửi ba chữ cho Gia Hân giống cách cô gửi "dạ" cho mọi người, gọn, sạch, không chạm vào gì sâu. Nhưng Gia Hân biết. Gia Hân luôn biết.
Một phút. Gia Hân đang gõ. Dừng. Gõ. Dừng.
Rồi:
"..."
Ba dấu chấm. Không chữ.
Cô nhìn. Lạ, Gia Hân không bao giờ gửi ba dấu chấm. Gia Hân nói thẳng, hỏi thẳng, khóc thẳng. Ba dấu chấm không phải Gia Hân.
Cô gõ:
"Sao? Có gì không?"
Một phút:
"Không. Chỉ hỏi thăm. Nhớ cậu."
"Tớ cũng nhớ cậu."
"Ngủ sớm nha. Đà Lạt lạnh, đắp chăn đi."
Cô cười. Đặt điện thoại. Không nghĩ gì thêm, Gia Hân lo lắng, bình thường. Ba dấu chấm có lẽ vì đang bận, hoặc đang nghĩ gì đó rồi thôi.
Cô không biết.
Không biết rằng trước đó một tiếng, Gia Hân vừa gửi địa chỉ phòng trọ nhà bà Sáu cho một người đàn ông chưa bao giờ nhắn ngoài công việc. Không biết rằng ba dấu chấm là Gia Hân muốn nói "có người sắp đến tìm cậu" rồi xoá. Không biết rằng sáng mai, một chiếc máy bay sẽ cất cánh từ Tân Sơn Nhất, mang theo một cái vali xách tay, một chiếc áo khoác xám, và một người đàn ông đã khóc lặng ở bàn cô lúc bốn giờ sáng.
Cô không biết gì. Cô chỉ biết, hôm nay cô ổn. Hôm nay cô không nghĩ đến anh.
Nói dối.