Tổ Dân Phố Thiên Tài
Chương 10: Tổ trưởng muốn từ chức
Chương 10

Tổ trưởng muốn từ chức

Ba tháng.

Tôi ngồi ở bàn trong phòng trọ, mười giờ đêm thứ Sáu, cửa sổ mở, quạt trần quay chậm. Trước mặt tôi là một tờ giấy A4 trắng và cây bút bi xanh. Trên tờ giấy, tôi đã viết:

"Đơn xin thôi nhiệm vụ tổ trưởng tổ dân phố số 17, phường 25, quận Bình Thạnh."

Bên dưới, tôi liệt kê:

Lý do: Sau 3 tháng nhận nhiệm vụ, tôi nhận thấy bản thân không phù hợp với công tác quản lý tổ dân phố.

Thành tích: 47 vụ tranh chấp, khiếu nại, sự cố. 0 vụ giải quyết triệt để.

Tôi đặt bút xuống, nhìn tờ giấy. Bốn mươi bảy vụ. Tôi nhớ từng vụ. Cây xoài ranh giới. Con chó hai giờ sáng. Cuộc họp bốn tiếng. Bot xóa tin. Dép mất. Bóng ma vẽ tranh. Vạch đỗ xe bị cọ. Thùng rác quốc tế. Và ba mươi chín vụ nhỏ khác mà tôi không kể, vì kể ra thì mỗi vụ cũng mất một chương.

Ba tháng. 47 vụ. 0 giải quyết triệt để. Trung bình một vụ mỗi hai ngày. Ở cơ quan, tôi xử xong 47 hồ sơ trong một tuần.

Bên ngoài, hẻm yên tĩnh bất thường. Không tiếng chó sủa (con chó hoang đã bị đội bắt chó phường bắt từ tuần trước, theo tin của ông Năm). Không tiếng livestream chị Hạnh (hôm nay chị nghỉ bán vì khan giọng). Không tiếng bình luận bóng đá bác Tư (giải Ngoại hạng Anh đang nghỉ). Chỉ có tiếng quạt trần kêu cọt kẹt và tiếng mưa nhỏ trên mái tôn.

Tôi cầm bút lên, viết tiếp:

Tôi xin chân thành cảm ơn bà con tổ 17 đã tạo điều kiện...

Tôi dừng bút. Tạo điều kiện gì? Điều kiện để mất ngủ? Điều kiện để đọc bốn trăm tin nhắn Zalo mỗi ngày? Điều kiện để kẻ vạch sơn rồi bị ai đó cọ sạch lúc hai giờ sáng?

Tôi gạch đi, viết lại:

Tôi xin gửi lời cảm ơn đến bà con...

Tôi gạch nốt.

Trong thời gian công tác, tôi đã...

Gạch tiếp.

Tờ giấy đã có năm dòng gạch. Tôi viết đơn từ chức mà không biết cách cảm ơn. Không phải vì không biết ơn. Mà vì không biết mình nên cảm ơn hay nên than phiền.

Điện thoại rung. Số lạ. Tôi bắt máy.

– Khang hả? Anh Tấn đây.

Tổ phó cũ. Người quăng cho tôi bịch ni lông hồ sơ ba tháng trước rồi nói "chúc em may mắn".

– Dạ, anh Tấn. Lâu quá anh không gọi.

– Ừ, anh bận. Nghe nói em đang làm tổ trưởng tốt lắm?

– Dạ... ai nói vậy ạ?

– Chị Hạnh nói. Chị ấy bán hàng cho vợ anh, tiện kể. Nói em chịu khó, có tâm, bà con quý.

Chị Hạnh khen tôi. Cùng chị Hạnh gọi điện lúc tôi mute Zalo. Cùng chị Hạnh bán dép Thái trong vụ án mất dép. Tôi không biết chị khen thật hay khen để bán thêm hàng.

– Anh Tấn, em... em đang tính nghỉ.

Im lặng bên kia. Tiếng thở nhẹ. Rồi tiếng cười khẽ.

– Ba tháng hả?

– Dạ.

– Đúng lịch. Tổ trưởng nào cũng muốn nghỉ tháng thứ ba. Anh cũng vậy. Tổ trưởng trước anh cũng vậy. Ông Chín trước nữa cũng vậy.

– Vậy sao anh nghỉ thật ạ?

– Anh nghỉ vì chuyển quận, không phải vì muốn nghỉ. Nếu còn ở đó, anh vẫn làm.

Tôi im lặng. Anh Tấn tiếp:

– Khang, anh nói thật nha. Tháng thứ ba là tháng tệ nhất. Mày thấy mình làm gì cũng sai, cũng không ai nghe. Mày thấy mọi người cãi nhau hoài, không thay đổi. Mày thấy quy trình vô dụng, biên bản vô nghĩa, cuộc họp vô tận.

– Dạ, đúng hết ạ.

– Nhưng tháng thứ tư thì khác. Không phải vì mọi thứ tốt hơn. Mà vì mày quen rồi. Mày hiểu rồi. Mày biết chú Ba sẽ giảng kinh tế cho mọi thứ, bà Sáu sẽ phán phong thủy cho mọi thứ, chị Hạnh sẽ bán hàng trong mọi tình huống. Và mày chấp nhận điều đó. Lúc mày chấp nhận, mày sẽ bắt đầu thấy vui.

– Vui ạ?

– Vui ở chỗ nào ạ?

– Vui ở chỗ mày ngồi uống cà phê, thấy ông Năm đi ngang, ổng gật đầu, mày gật lại, không nói gì hết mà hiểu hết. Vui ở chỗ mày biết hôm nay bà Sáu đốt nhang mùi trầm thì chuyện gì đó đang xảy ra, bà đang cầu cho ai. Vui ở chỗ nhỏ nhỏ vậy, không có trong biên bản.

Tôi không nói gì. Anh Tấn im một lúc, rồi nói nhỏ hơn:

– Ai qua được tháng thứ tư thì ở luôn. Tin anh đi.

– Mà Khang, anh hỏi thiệt. Em có nhớ tên bà con không?

Tôi im lặng một giây. Rồi bắt đầu đếm trong đầu. Nhà số 18 bác Tư, vợ bác Tư tên Hoa. Nhà số 3 cô Lan, chồng cô Lan tên Đạt, con gái tên Linh học trường quốc tế. Nhà số 12 ông Năm, ở một mình. Nhà số 7 chú Ba, vợ chú Ba tên Loan, hai con gà tên Messi và Ronaldo. Nhà số 9...

– Nhớ hết anh, tôi nói.

– Vậy thì nghỉ gì. Ông tổ trưởng nào nhớ hết tên bà con thì không nghỉ được đâu.

Anh Tấn cười rồi cúp máy. Tôi đặt điện thoại xuống, nhìn tờ đơn từ chức. Năm dòng gạch. Một dòng lý do. Không có chữ ký.

Anh Tấn nói đúng hay sai, tôi không biết. Nhưng tôi thấy mệt vì một điều kỳ lạ: tôi mệt vì quan tâm, chứ không phải mệt vì phải làm. Hai thứ đó khác nhau. Nhân viên hành chính mệt vì phải xử hồ sơ. Tổ trưởng mệt vì nhớ rằng ông Năm sống một mình và mỗi tối đều lau camera cho đến khi hẻm đi ngủ.

Sáng thứ Bảy. Tôi không ký đơn. Nhưng cũng không xé. Tờ giấy nằm trên bàn, bên cạnh cuốn sổ ghi chép đã dày gần hết.

Tôi ra quán cà phê đầu hẻm, gọi ly bạc xỉu, ngồi bàn quen thuộc. Nắng sáng, mùi cà phê phin, tiếng quạt trần, bốn bàn nhựa. Ông chủ quán rót nước, gật đầu chào, không hỏi gì. Ông quen rồi. Tổ trưởng ngồi đây mỗi sáng.

Tôi mở cuốn sổ, lật qua các trang. Dày thật. Ba tháng trước, cuốn sổ này mới tinh, trang đầu ghi "Danh sách hộ dân tổ 17" bằng chữ in hoa gọn gàng. Bây giờ, gần hết sổ: biên bản cây xoài, sơ đồ camera ông Năm, danh sách số điện thoại từng hộ, bản vẽ hẻm 17 với ô đỗ xe (đã gạch bỏ), ghi chú về thùng rác, ghi chú về bot Zalo, ghi chú về phong thủy bà Sáu (để đối phó), ghi chú về giá vàng chú Ba (để biết khi nào ông ấy sắp giảng).

Trang 47: "Bé Tin, nhà 21, 15 tuổi, lớp 10. Không nói nhiều. Thở dài. Nhưng mỗi lần nói đúng 1 câu là xong vụ." Trang 53: "Chị Hạnh bán 4 đôi dép trong cuộc họp tổ. Ghi nhận." Trang 61: "Bác Tư dùng từ pressing ba lần trong một buổi chiều. Pressing cây xoài. Pressing thùng rác. Pressing hàng rào."

Và ở góc một trang, bằng chữ nhỏ, đã gạch rồi viết lại rồi gạch: "Vẽ đẹp."

Tôi lật tiếp. Trang cuối cùng đã dùng, tôi ghi bằng bút đỏ: "Họp phường ngày 15, mang biên bản vụ cây xoài." Bên dưới, bằng bút xanh, thêm: "Hỏi ông Năm camera 7 đã sửa chưa." Rồi bằng bút chì, nhạt hơn, như ghi lúc đang đi bộ: "Bà Sáu nói tháng này hướng Đông Nam kỵ kim loại. Nhắc chị Hạnh đừng treo móc khóa bạc trước cửa (nếu không muốn nghe giảng 30 phút)."

Cuốn sổ dày hơn hồ sơ công việc chính thức ở cơ quan. Tôi mang nó đi khắp hẻm mà không nhận ra. Ở cơ quan, tôi ghi sổ vì quy trình yêu cầu. Ở hẻm, không ai yêu cầu tôi ghi gì cả. Nhưng cuốn sổ vẫn đầy.

– Anh Khang.

Tôi ngẩng lên. Mai đứng trước quán, tay cầm ly trà đá mua từ xe đẩy bên đường, tay kia cầm cuốn sổ sketch. Tóc buộc lỏng, áo thun trắng rộng thùng thình (sạch, không dính sơn lần này), tai nghe bluetooth đeo một bên.

– Mai. Sáng sớm vậy?

– Tui đi mua đồ vẽ ở Lê Văn Sỹ. Ghé uống nước.

Cô kéo ghế ngồi đối diện, đặt ly trà đá xuống, nhìn cuốn sổ mở trước mặt tôi.

– Sổ gì dày quá.

– Sổ công tác. Ghi chuyện tổ dân phố.

Mai gật đầu, nhấp trà đá. Không hỏi thêm. Cô có kiểu không hỏi thêm khi người ta chưa muốn kể, và điều đó khiến tôi muốn kể.

– Tôi đang tính nghỉ, tôi nói.

– Nghỉ gì?

– Nghỉ tổ trưởng. Từ chức.

Mai nhìn tôi, mắt nheo nhẹ, kiểu cô hay nhìn khi quan sát. Không ngạc nhiên. Không khuyên nhủ.

– Anh làm tổ trưởng vui không?

Câu hỏi giản dị đến mức tôi không biết trả lời. Ở cơ quan, không ai hỏi tôi "anh làm hành chính vui không". Ở hẻm, không ai hỏi tôi "anh làm tổ trưởng vui không". Họ hỏi "tổ trưởng xử vụ này đi", "tổ trưởng giải quyết cái kia đi", "tổ trưởng sao không trả lời Zalo". Nhưng không ai hỏi vui không.

– Không, tôi nói.

Mai gật đầu. Rồi nhìn cuốn sổ trên bàn.

– Vậy sao anh vẫn cầm cái sổ đó đi khắp hẻm?

Tôi nhìn xuống cuốn sổ. Gáy sổ đã mòn, bìa quăn góc, mấy trang có vệt cà phê. Tôi cầm nó mỗi ngày, ra hẻm, vào nhà văn hóa, lên phường, về phòng. Cầm như cầm ví, như cầm điện thoại, vô thức.

– Tui không biết mấy về tổ dân phố, Mai nói. Tui mới chuyển đến, chưa quen ai. Nhưng tui thấy anh đi trong hẻm, cầm cái sổ, dừng lại nói chuyện với ông Năm, rồi đi tiếp, dừng lại nói chuyện với bà Sáu, rồi đi tiếp. Mỗi sáng. Mỗi chiều. Không vui nhưng vẫn đi.

Cô nhấp trà đá, rồi mỉm cười nhẹ:

– Giống tui vẽ. Không phải lúc nào cũng vui. Nhưng bỏ thì không biết làm gì.

Cô so sánh tôi với việc vẽ tranh. Tôi so sánh mình với nhân viên hành chính. Hai cách nhìn, hai thế giới.

Mai đứng dậy, cầm ly trà đá, cầm cuốn sổ sketch.

– Thôi tui đi. Đồ vẽ đợi lâu là hết.

– Mai.

Cô quay lại.

– Cảm ơn.

– Cảm ơn gì?

– Cảm ơn câu hỏi.

Mai nheo mắt, không hiểu, nhưng gật đầu rồi đi. Dép lê trên mặt đường sáng, tiếng nhẹ, đều, xa dần, qua quán cà phê, ra đường lớn, biến mất trong dòng người Sài Gòn sáng thứ Bảy.

Tôi ngồi lại một mình, ly bạc xỉu đã hết. Nắng dần lên, chiếu xiên qua mái hiên quán, vàng trên tờ báo cũ ai đó để quên. Từ trong hẻm, tiếng chú Ba vọng ra, đang giảng cho hai con gà nghe về "chỉ số DXY và tác động đến giá thức ăn gia cầm". Tiếng bà Sáu đốt nhang sáng, mùi trầm thoảng. Tiếng ông Năm lau camera, nhẹ, đều, kiên nhẫn.

Tôi nhìn cuốn sổ trên bàn. Lật lại trang đầu tiên: "Danh sách hộ dân tổ 17". Ba tháng trước, đây chỉ là danh sách. Bây giờ, mỗi cái tên gắn với một khuôn mặt, một giọng nói, một thói quen, một câu cửa miệng. Chú Ba và hai con gà. Ông Năm và mười bốn camera. Bà Sáu và phong thủy. Bác Tư và bóng đá. Chị Hạnh và ba đôi 150k. Anh Hùng và đột phá. Bé Tin và cái thở dài. Cô Lan và Phần Lan.

Và Mai. Tóc buộc lỏng. Tai nghe một bên. Vẽ mèo trên nắp thùng rác lúc một giờ sáng.

Tôi gấp cuốn sổ lại, đứng dậy, trả tiền cà phê.

Đi bộ về qua hẻm, tôi thấy bác Tư đang kê bàn trước nhà, bày bộ cờ tướng, đối thủ là chính bác (bác chơi cả hai bên, bình luận cả hai bên, và tranh cãi với chính mình). Bác thấy tôi, gọi:

– Khang, vô đánh ván không?

– Dạ thôi bác, em không biết chơi.

– Không biết thì học. Cờ tướng giống bóng đá, chiến thuật hết.

Tôi cười, lắc đầu, đi tiếp. Qua nhà ông Năm, thấy ông đang đứng trên thang nhôm, tay cầm khăn lau camera số 9, camera hướng ra đầu hẻm. Ông thấy tôi, gật đầu, không nói gì. Ông Năm ít nói. Nhưng mỗi sáng ông đều đứng trên cái thang đó, lau từng cái camera một, đều đặn như người ta tưới cây.

Tôi đi qua hẻm mỗi ngày, và mỗi ngày đều giống nhau. Bác Tư chơi cờ. Ông Năm lau camera. Chú Ba giảng kinh tế. Bà Sáu đốt nhang. Nhưng hôm nay, lần đầu tiên, tôi nhận ra mình biết tất cả những thứ đó không phải vì ai bảo tôi ghi nhớ. Mà vì tôi đã ở đây đủ lâu để nó tự ngấm.

Về đến phòng, tờ đơn từ chức vẫn nằm trên bàn. Năm dòng gạch. Một dòng lý do. Không chữ ký.

Tôi cầm tờ giấy lên, nhìn. Rồi xé làm đôi. Rồi xé làm bốn. Bỏ vào thùng rác (thùng nào cũng được, vì ba thùng đều chứa y chang nhau).

Tôi xé đơn từ chức. Không phải vì tôi thích công việc này. Không phải vì anh Tấn khuyên. Không phải vì Mai hỏi.

Mà vì tôi nhìn cuốn sổ, và không hiểu tại sao nó dày đến vậy.

Cuốn sổ tôi mang đi khắp hẻm mỗi ngày, ghi lại từng vụ việc, từng cái tên, từng thói quen, từng câu cửa miệng. Tôi ghi mà không nhận ra mình đã thuộc. Tôi thuộc mà không nhận ra mình đã ở lại.

Ba tháng. 47 vụ. 0 giải quyết triệt để.

Nhưng 1 cuốn sổ. Đã gần hết.

Ngày mai tôi sẽ mua cuốn mới.

Ch.10/71
2.417 từ