KPI Tình Yêu
Chương 108: "Từ Đối Thủ Thành Người Nhà"
Chương 108

"Từ Đối Thủ Thành Người Nhà"

Xe khách Phương Trang chạy 6 tiếng từ Sài Gòn lên Đà Lạt, và An Hạ ngủ từ Dầu Giây.

Từ Dầu Giây. Nghĩa là cô ngủ 4 tiếng trên 6. CEO công ty vốn hóa 2 tỷ đô, ngồi ghế xe khách giường nằm, đắp cái chăn mỏng có logo Phương Trang, và ngáy nhẹ.

Tôi đề nghị bay. Cô bảo "đi xe mới có cảm giác về quê." Tôi nhắc "Đà Lạt là quê anh, không phải quê em." Cô nhìn tôi bằng đôi mắt "nếu anh nói thêm một câu, em sẽ đặt vé xe cho mình em và anh tự bay." Tôi im.

Nên đây, 6 tiếng, xe giường nằm, Lâm An Hạ ngáy bên cạnh, còn tôi nhìn ra cửa kính – Bảo Lộc trôi qua, đồi chè xanh, sương mỏng, không khí lạnh dần. Đà Lạt.

2 năm. 2 năm tôi không về.

Bến xe Đà Lạt, 12 giờ trưa.

Lạnh hơn Sài Gòn 10 độ. An Hạ bước xuống xe, co vai, kéo áo khoác – cái áo khoác mà cô mượn tôi từ Sài Gòn vì "em quên mang." Cô không quên. Cô muốn mặc áo tôi.

Kiểu chiếm hữu mà Lâm An Hạ không bao giờ thừa nhận. Cô không nói "em muốn mặc áo anh." Nói "em quên mang." Tôi biết. Cô biết tôi biết. Chúng tôi giả vờ không biết. Hệ thống vận hành tốt.

Mẹ đón ở bến. Tôi thấy bà từ xa – áo len tím, tóc búi, tay xách túi nilon đựng gì đó – chắc bánh căn, vì mẹ luôn mang đồ ăn đi đón như thể con trai sắp chết đói trên đường về.

– MINH!

Giọng mẹ. Cao, vang, kiểu giọng mà cả bến xe quay lại nhìn. Mẹ Trần Thị Hà không biết nói nhỏ – bà nói ở volume 8 trên thang 10, và khi vui, bà nói ở 11.

Bà chạy đến – chạy thật, kiểu chạy của phụ nữ 57 tuổi mang dép lê trên sàn bến xe ướt – ôm tôi. Mùi dầu gió xanh và bánh tráng nướng. Mùi của tuổi thơ.

– Con gầy quá! Ở Sài Gòn không ăn gì hả?

– Con ăn đủ, mẹ.

– Ăn đủ mà gầy vầy? Mẹ nhìn tôi bằng đôi mắt "mẹ không tin" – kiểu mắt mà mọi bà mẹ Việt Nam đều có, bất kể con 3 hay 30 tuổi.

Rồi bà quay sang An Hạ.

Mẹ nhìn An Hạ từ đầu đến chân – nhanh, kỹ, kiểu nhìn mà không AI nào nhanh bằng.

– Con gái đây hả! Xinh quá trời!

Mẹ ôm An Hạ. Ôm thật – không phải kiểu bắt tay lịch sự, kiểu ôm mà bà dành cho người bà đã quyết định yêu trước khi gặp.

An Hạ cứng người 1 giây – không quen được ôm bởi người lạ. Rồi cô mềm ra.

– Dạ, con chào mẹ.

"Con chào mẹ." Gọi "mẹ" luôn. Không phải "chào bác" hay "chào cô." "Con chào mẹ." Tôi nhìn An Hạ – cô không liếc tôi xin phép, không ngập ngừng. Cô gọi "mẹ" như thể đó là điều tự nhiên nhất thế giới.

Và mẹ – mẹ nghe "mẹ" từ miệng An Hạ, mắt bà sáng lên. Kiểu sáng mà tôi chỉ thấy khi bà hoàn thành một bức tranh ưng ý.

– Ôi, gọi mẹ ngọt quá! Mẹ kéo An Hạ đi, tay bà nắm tay cô như thể sợ mất. Vô nhà, mẹ nấu bánh căn rồi!

Tôi đứng lại. Xách 2 vali – của tôi và của cô – đi theo. 2 bước phía sau.

Quen rồi. Phụ nữ đi trước, đàn ông xách đồ.

Nhà ba mẹ ở đường Phan Đình Phùng – con đường dốc, hai bên hàng thông, nhà 2 tầng xây từ năm 1998, tường vàng kem, ban công có giàn hoa giấy đỏ mà mẹ trồng và ba bị dị ứng nhưng không dám nhổ.

2 năm không về. 2 năm tôi giận ba – giận vì ông nói cảm xúc là yếu đuối, giận vì tôi giống ông, và ghét phần giống đó.

Ba đứng ở cửa.

Trần Văn Thành, 60 tuổi. Kỹ sư điện, nghỉ hưu sớm vì đau lưng. Tóc bạc nhiều hơn lần cuối tôi thấy. Gầy hơn – kiểu gầy của người ăn ít, ngủ ít, sống ít tiếng ồn. Mặc áo sơ mi kẻ, quần tây, dép nhà – trang phục tiêu chuẩn mọi ngày, vì ba không phân biệt ngày thường và ngày đặc biệt.

Ngoại trừ hôm nay ông mặc áo sơ mi mới – nếp gấp trên vai chưa mất. Áo mới bóc túi để đón con trai và bạn gái con trai.

– Ba, tôi gọi.

– Ừ. Vô.

"Ừ. Vô." 2 từ. Ba Trần Văn Thành không nói nhiều – ông nói ít, nói đúng, và để khoảng trống giữa các từ như thể tiếng im cũng là một phần của câu.

An Hạ bước tới, cúi nhẹ.

– Dạ, con chào ba.

Ba nhìn An Hạ. Nhìn kỹ – kiểu nhìn mà tôi biết, vì tôi nhìn giống hệt khi đánh giá một đoạn code mới: không vội, không cảm xúc, chỉ đọc.

– Cô là CEO?

– Dạ.

– Hm.

"Hm" không kèm gì – đang cân nhắc. Cô đã gặp đủ nhà đầu tư khó tính hơn ba tôi. Nhưng được nhà đầu tư duyệt khác được ba bạn trai duyệt.

Bếp. 1 giờ chiều.

Mẹ nấu bánh căn – khuôn đất nung, bếp than, bột gạo đổ tròn, nhân tôm, trứng cút. Mùi bánh chín trộn mùi mỡ hành, trộn mùi than, trộn mùi Đà Lạt lúc trưa – lạnh nhẹ, ẩm, kiểu trời mà cần ăn thứ gì đó nóng.

An Hạ đứng cạnh mẹ, mắt tròn.

– Mẹ ơi, con phụ được không?

– Được chứ! Cầm muôi này, múc bột đổ vô khuôn.

An Hạ múc bột. Tay run nhẹ – không phải vì sợ, vì không quen bếp than. Cô nấu bún riêu ở Sài Gòn bằng bếp từ – bếp than khác. Than nóng không đều, khuôn đất nung giữ nhiệt lâu, bột phải đổ đúng lượng.

Cô đổ hơi nhiều. Bột tràn ra ngoài khuôn.

– Ôi!

Mẹ cười – tiếng cười rộn, ấm, kiểu cười mà tôi nhớ nhất về bà: không bao giờ cười nhỏ khi có thể cười lớn.

– Không sao, không sao! Lần đầu mà, ai cũng tràn. Minh hồi nhỏ đổ cháy khuôn nè!

– Ba mẹ, Kha Minh cũng nấu được à?

– Nấu gì! Mẹ phẩy tay. Nó đổ 1 lần, cháy. Đổ lần 2, sống. Lần 3 nó bỏ đi đọc sách. Từ đó không vô bếp nữa.

Tôi không vào bếp. Bếp không có nút "hoàn tác" khi cháy. Nhưng An Hạ thì khác – cô vào bếp, đổ tràn, cười, và mẹ tôi yêu cô vì điều đó.

3 giờ chiều. Vườn sau nhà.

Ba đi ra vườn. Tôi biết – vì ba luôn ra vườn lúc 3 giờ, tưới cây, xem hoa, ngồi ghế đá dưới gốc hồng cổ. Thói quen 20 năm.

Tôi đi theo.

Không phải vì muốn. Vì biết ba muốn tôi đi theo mà không nói.

Vườn nhỏ, mẹ trồng đủ thứ: hồng cổ, cẩm tú cầu, và 1 cây mai ba trồng năm tôi sinh. Cây mai cao hơn tôi bây giờ.

Ba ngồi ghế đá. Tôi ngồi cạnh. Đá lạnh – 18 độ.

Im 1 phút. Kiểu im của hai người đàn ông Trần gia – không ai mở lời trước, vì cả hai đều nghĩ cảm xúc là thứ cần tiết kiệm.

Ba nói trước.

– Con... mẹ nói con suýt chết vì làm quá sức.

Không "con khỏe không." Không "sao hồi đó không nói." Đi thẳng vào điểm – kiểu nói ba, kiểu nói tôi. Chúng tôi giống nhau đến mức đau.

– Con ổn rồi, ba. Nằm viện 3 tuần, nghỉ ngơi. Bây giờ khỏe.

Ba gật. Im 20 giây. Tay ông đặt trên đùi – bàn tay thợ điện, chai, dày, ngón cái có sẹo nhỏ từ lần bị giật năm tôi 5 tuổi.

– Ba xin lỗi.

2 từ. Từ miệng Trần Văn Thành – người chưa bao giờ nói "xin lỗi" trong 30 năm tôi biết ông. Người nói "đúng" hoặc "sai," không nói "xin lỗi," vì xin lỗi là thừa nhận sai, và đàn ông Trần gia không thừa nhận sai.

Trước khi An Hạ. Trước khi tôi gục. Trước khi mọi thứ vỡ ra và lắp lại khác đi.

– Ba dạy con cảm xúc là yếu đuối, ba nói, giọng trầm hơn bình thường, kiểu trầm mà tôi nghe lần đầu. Ba sai.

Trời Đà Lạt chiều. Gió nhẹ. Lá thông rơi xuống đá. Tiếng chim từ xa. Và ba tôi – 60 tuổi, tóc bạc, lưng hơi còng – đang nói 2 từ mà ông giữ trong lồng ngực có lẽ 30 năm.

– Ba thấy con trên tivi, ông tiếp. Con và cô An Hạ. Con nói... con nói "tìm đúng người – người bổ sung cho bạn."

Ông dừng. Nuốt.

– Cô An Hạ... cô ấy khiến con mạnh hơn chứ không yếu đi.

Mắt tôi nóng. Nóng kiểu mà không kìm được – kiểu nóng từ sâu, từ chỗ mà tôi giấu cái tên "ba" suốt 2 năm. Nước mắt chảy – không nhiều, không drama, chỉ 2 giọt, lặng lẽ, rơi xuống đá.

Lần đầu tôi khóc. Trong truyện này – 108 chương, 15 tháng, 2 lần suýt chết, 1 lần gục, 1 lần yêu. Và lần đầu tôi khóc không phải vì đau. Vì ba nói xin lỗi.

– Ba...

– Ừ.

Im. Không cần nói thêm. 2 người đàn ông Trần gia ngồi trên ghế đá, trong vườn nhỏ, dưới gốc cây mai 30 tuổi, và im – kiểu im mà lần đầu không phải vì tránh né, mà vì đủ rồi.

Ba không nói "ba yêu con." Không bao giờ. Nhưng "ba xin lỗi" từ miệng Trần Văn Thành nặng hơn mọi câu "yêu" trên đời. Vì ông phải phá vỡ mọi thứ ông tin – đàn ông không sai, đàn ông không khóc, đàn ông không mềm – để nói ra.

Và ông nói.

Bước chân nhẹ phía sau. Tôi biết là An Hạ trước khi quay lại – mùi dầu gội bưởi, mùi vetiver, mùi mà tôi nhận ra ở bất kỳ đâu.

Cô không hỏi. Không nói "anh ổn không?" Không nói "chuyện gì vậy?" Cô chỉ đứng cạnh ghế đá, nhìn vườn, nhìn thông, và đợi.

Tôi lau mắt bằng mu bàn tay. Nhìn cô.

– Ba nói xin lỗi.

– Ôi, Minh...

Cô ôm tôi. Ở vườn sau nhà ba mẹ, dưới gốc cây mai Đà Lạt, trong buổi chiều 18 độ, cô ôm tôi – và tôi để cô ôm. Không đẩy ra, không nói "anh ổn," không giấu. Chỉ ôm.

Lần đầu tôi để ai thấy mình khóc. Lần đầu tôi không sợ yếu. Vì An Hạ đứng cạnh, và cạnh cô, yếu không phải thua. Yếu là con người.

Và con người thì được phép khóc trong vườn nhà mình.

7 giờ tối. Phòng khách.

4 người quanh bàn. Đèn vàng ấm. Mẹ dọn bàn – bánh căn (An Hạ phụ đổ), gỏi cuốn, canh atiso Đà Lạt, và 1 đĩa dâu tây "vườn nhà hàng xóm cho."

Ba và tôi ngồi bên bàn cờ tướng – truyền thống cũ, mỗi lần tôi về. Bàn cờ gỗ sờn, quân ngà vàng ố, vẫn đặt ở góc phòng khách đúng chỗ từ khi tôi 6 tuổi.

Ba đi mã. Tôi đi pháo. Không nói. Kiểu chơi cờ mà cả hai đã thuộc – im, nhìn bàn, gõ quân xuống gỗ, tiếng "cạch" đều đặn như đồng hồ.

Cờ tướng. Ba dạy từ năm tôi 6 tuổi – "nghĩ trước 3 nước." Tôi mang câu đó vào mọi thứ. Nhưng ba quên dạy: đôi khi không cần nghĩ trước, chỉ cần ngồi đây và để khoảnh khắc tự xảy ra.

Mẹ kéo An Hạ ra ban công tầng 2 – "mẹ chỉ cho con vẽ," vì mẹ vẽ tranh, sở thích 20 năm, và bà muốn chia sẻ với người mới duy nhất trong nhà.

Tôi nghe giọng An Hạ từ ban công – "Mẹ ơi, con vẽ xấu lắm!" Và giọng mẹ – "Không ai vẽ xấu! Chỉ có người chưa quen!"

Tiếng cười từ ban công – cười 2 giọng, mẹ và cô – vang xuống phòng khách. Ba dừng nước cờ, nhìn lên trần, lắng nghe. Khóe miệng ông hơi cong – 1mm, kiểu cong mà chỉ người nhìn kỹ mới thấy. Tôi nhìn kỹ. Tôi thấy.

Ba đi xe. Chiếu tướng.

– Thua rồi, ông nói.

– Ba gian. Ba đi lúc con không nhìn.

– Con không nhìn thì tại con.

Kiểu ba. 30 năm, không đổi.

9 giờ tối. An Hạ ngồi bậc cửa trước nhà, đắp áo khoác (của tôi), nhìn đường Phan Đình Phùng vắng.

Tôi ngồi cạnh. Đá lạnh. Đà Lạt đêm – sương xuống, đèn đường vàng nhạt, tiếng chó sủa xa, mùi thông ướt.

– Anh.

– Gì?

– Ba anh thương anh lắm.

Cô nói nhẹ. Kiểu nhẹ mà chỉ người đã mất ba mới nói được – vì cô biết giá trị của câu "ba xin lỗi." Ba cô mất 5 năm rồi. Cô không bao giờ có cơ hội nghe ba mình nói "xin lỗi." Nhưng cô vui vì tôi có.

– Em biết không, tôi nói, giọng hơi khàn vì gió lạnh (và vì chiều nay). Ba chưa bao giờ khen ai trước mặt ba. Nhưng tối nay, khi mẹ dọn bàn, ba nói: "Cô An Hạ nấu bánh căn được."

– Được?

– Từ ba, "được" là 5 sao Michelin.

An Hạ cười. Tiếng cười trong trẻo, vang trên đường Phan Đình Phùng vắng, trộn vào sương Đà Lạt.

– Và mẹ anh...

– Mẹ yêu em từ lúc em đổ tràn bột. Bà nói "con dâu nào cũng đổ lần đầu."

"Con dâu." Mẹ gọi An Hạ là "con dâu" với ba tôi khi tôi ở trong bếp rửa bát. Bà nghĩ tôi không nghe. Tôi nghe. Và tôi không sửa.

An Hạ im. Nhìn ra đường. Rồi quay sang tôi.

– Từ đối thủ thành người nhà.

– Hả?

– Chúng mình. Anh nhớ không? Ngày đầu tiên anh gọi em là "đối thủ."

– Tôi gọi cô là "lead growth mới."

– Anh nghĩ "đối thủ." Em đọc được.

Cô đọc được. Lúc nào cũng đọc được. 15 tháng trước, tôi nghĩ cô là đối thủ. Bây giờ cô ngồi trước nhà ba mẹ tôi, mặc áo khoác tôi, ăn bánh căn mẹ nấu, nghe ba nói "được," và gọi tôi bằng "anh" – giọng nhẹ, tự nhiên, như thể cô vốn thuộc về đây.

Từ đối thủ thành người nhà. Hành trình dài. Nhưng đáng.

– Anh, An Hạ nói, mắt nhìn thông.

– Gì?

– Em thích Đà Lạt.

– Vì sao?

– Vì anh lớn lên ở đây. Nên ở đây có anh, dù anh đi rồi.

Cô yêu Đà Lạt vì Đà Lạt giải thích tôi. Đồi thông giải thích tại sao tôi thích im. Ba giải thích tại sao tôi sợ cảm xúc. Và mẹ giải thích tại sao, dù sợ, tôi vẫn yêu.

Tôi đặt tay lên tay cô. Lạnh – 2 bàn tay lạnh chạm nhau giữa Đà Lạt đêm, nhưng ấm. Kiểu ấm mà toán học không giải thích được.

– Em.

– Gì?

– Cảm ơn đã đến đây.

– Em đâu có đến vì anh.

– Vì gì?

– Vì bánh căn mẹ.

Nói dối. Và tôi yêu cả lời nói dối đó.

Sương Đà Lạt xuống dày hơn. Đèn đường Phan Đình Phùng nhòe vàng trong hơi nước. Bên trong nhà, mẹ rửa bát, ba đọc báo, đài phát thanh phát bài nhạc Trịnh – "Hạ Trắng," bản tình ca mà mẹ thích và ba chưa bao giờ thừa nhận cũng thích.

Gia đình. Sắp là gia đình cô. Từ đối thủ thành người nhà – hành trình 15 tháng, 1 ván cờ thua, 1 đĩa bánh căn đổ tràn, và 1 câu xin lỗi muộn 30 năm.

Đây là nhà.

Ch.108/110
2.731 từ