Sáu tuổi
T47. Thứ Sáu. Hai mươi ba giờ.
Phòng chứng cứ trống, kiểu trống anh đứng mười ba năm: tường trống, ô vuông nhạt, lỗ đinh. Bàn gỗ sồi giữa phòng, đèn vàng, quạt thông gió kêu. Bốn bức tường anh dán bằng chứng mười ba năm, bây giờ không còn gì. Ổ cứng bị lấy đêm mất điện. Bìa hồ sơ bị Tuấn dọn. Mười ba năm trên tường, bây giờ trống kiểu trống phòng đã xong việc.
Anh ngồi. Không đứng tường Đông, kiểu đứng mười ba năm. Ngồi, ghế gỗ cuối bàn, ghế cô ngồi thứ Ba. Ghế cô ngồi khi anh kể. Ghế cô ngồi khi anh nói "phiên bản thay thế." Ghế cô ngồi khi giọt nước mắt đầu tiên mười năm rơi trên gỗ sồi.
Hai ngày. Cô không trả lời tin nhắn anh gửi tối qua. Ba từ: "Em ổn không?" Ba từ anh đánh trên màn hình điện thoại, kiểu đánh anh không dùng mười ba năm: hỏi ai đó có ổn không, kiểu hỏi anh không được dạy. Đình Viễn dạy anh đọc người, không hỏi người. Đọc: quan sát, phân tích, kết luận. Không hỏi. Hỏi là để người khác kiểm soát thông tin. Đọc là kiểm soát mà không ai biết.
Nhưng anh hỏi cô. Ba từ, kiểu ba từ anh gửi và biết cô sẽ không trả lời. Anh biết vì anh đọc cô mười sáu tuần: cô không trả lời khi cô đang xử lý, kiểu xử lý cô dùng từ tuần mười (ba ngày nằm sofa sau khi biết chữ ký anh trên lệnh sa thải cha).
Lần này sâu hơn. Anh biết. Lần trước cô giận anh. Lần này cô không giận ai, kiểu không giận nguy hiểm hơn giận: giận có hướng, không giận thì trống.
Anh ngồi ghế cô, T47, đèn vàng. Và lần đầu mười ba năm, anh viết.
Không phải lệnh. Không phải ghi chú CA. Không phải nhật ký hệ thống. Anh viết tay, kiểu viết tay anh chưa dùng từ khi Đình Viễn dạy anh đánh máy năm mười tuổi ("Chữ viết tay để lại dấu vết. Máy tính xóa được."). Giấy trắng, bút bi đen, tay phải. Chữ anh, kiểu chữ mười ba năm không dùng: hơi nghiêng trái, nét đều, kiểu nét người được dạy viết trước khi được dạy giết.
Anh viết cho cô. Không gửi, kiểu không gửi vì cô không cần đọc bây giờ. Viết vì anh cần viết, kiểu cần mười ba năm anh không thừa nhận: cần nói với ai đó thứ anh chưa nói.
Em không cần đọc cái này. Nếu em đọc, em sẽ biết thêm những thứ không giúp em ổn hơn. Nhưng tôi viết vì nếu không viết, tôi sẽ gọi. Và nếu tôi gọi, em sẽ nghe. Và nếu em nghe bây giờ, em sẽ vỡ. Tôi không muốn em vỡ vì tôi.
Anh dừng. Nhìn bốn dòng, kiểu nhìn mười ba năm anh nhìn lệnh trên màn hình: từ trên xuống, đều, đánh giá. Bốn dòng viết tay, mực đen trên giấy trắng, bàn gỗ sồi T47. Kiểu bốn dòng anh chưa bao giờ viết vì anh chưa bao giờ có ai để viết cho.
Viết tiếp.
Tôi mười chín tuổi lần đầu xử lý.
Anh dừng ở "xử lý." Bút trên giấy, kiểu dừng anh không dùng: anh không bao giờ dừng khi viết lệnh, khi ký, khi ghi mã. Nhưng đây không phải lệnh. Đây là thứ anh chưa nói ai, kể cả cô, kể cả cha cô khi cha còn sống.
Mười chín tuổi. Đình Viễn giao lệnh: theo dõi Nguyễn Văn Hải, phó giám đốc tài chính, nghi rò rỉ. Tôi theo dõi ba ngày, xác nhận Hải chuyển dữ liệu cho đối thủ. Đình Viễn phê duyệt "hoàn tất." Tôi không tự tay. Tôi chứng kiến.
Đình Viễn bắt tôi chứng kiến. Kiểu bắt không ép: ông ấy nói "Con nên ở đó. Để hiểu công việc." Tôi ở đó. Căn hộ Hải, quận 7, hai giờ sáng. Hai người ông ấy thuê. Tôi đứng cửa. Mười chín tuổi, bộ đen, tay phải nắm trong túi quần vì run.
Anh dừng. Bút không động. Mười ba năm anh không nghĩ đến đêm đó, kiểu không nghĩ có chủ ý: Đình Viễn dạy anh gạt đi. "Cảm xúc là dữ liệu nhiễu. Gạt đi, xử lý tiếp." Anh gạt mười ba năm. Nhưng bây giờ, viết cho cô, kiểu viết không gạt: đêm đó quay lại, rõ, kiểu rõ mười ba năm không mờ.
Tôi không mô tả. Em không cần biết chi tiết. Tôi nôn sau đó. Hành lang, cầu thang, nôn ba lần. Tay bám lan can, đầu gối trên bậc thang, kiểu quỳ mười chín tuổi. Đình Viễn đợi tôi ở xe. Không lên. Không hỏi. Đợi, kiểu đợi ông ấy dùng ba mươi năm: đợi vì biết tôi sẽ xuống. Biết vì ông ấy biết tôi không có chỗ nào khác để đi.
Khi tôi vào xe, ông ấy nói: "Lần sau sẽ dễ hơn."
Ông ấy đúng.
Hai từ. Anh viết hai từ và bút dừng ba giây. Lần sau dễ hơn. Lần sau nữa dễ hơn nữa. Hai mươi mốt tuổi, anh nhận IO-07. Hai mươi ba tuổi, anh ký lệnh đầu tiên. Kiểu ký không run vì tay đã quên run. Mười ba năm, mười bảy vụ (năm chữ ký anh, mười hai qua ông ấy, trong đó bảy anh ký), và mỗi lần dễ hơn. Kiểu dễ anh ghét nhất: dễ vì quen, không phải vì đúng.
Cha em hỏi tôi, thứ Bảy thứ mười một, bên bàn cờ: "Mày có ngủ được không?" Tôi nói: "Ngủ được." Cha em nhìn tôi, kiểu nhìn lâu, kiểu nhìn không phán xét mà cô biết (kiểu nhìn em dùng). Cha em không nói gì. Di quân mã. Nhưng tôi biết: cha em nghe "ngủ được" và hiểu "không." Vì cha em cũng từng "ngủ được." Và cha em biết "ngủ được" nghĩa là gì trong hệ thống T47.
Cha em dạy tôi hỏi "tại sao." Ông ấy không nói "tại sao." Ông ấy dạy cờ vua: "mỗi quân cờ có giá trị khác nhau, nhưng không quân nào đáng bị hy sinh vì trò chơi." Mười một lần thứ Bảy, cơm hộp, tôi bắt đầu hỏi. Không hỏi bằng miệng. Hỏi bằng mắt. Đình Viễn thấy: "Đức phá con." Bốn từ. Bốn từ là lý do cha em chết.
Anh viết và tay phải không run. Mười ba năm tay anh không run, kiểu không run Đình Viễn rèn: tay run là điểm yếu, điểm yếu là khe hở, khe hở cho người khác khai thác. Nhưng bây giờ, ghế gỗ sồi T47, đèn vàng, phòng trống: tay anh không run vì anh không ép. Kiểu không ép, kiểu viết vì cần, không phải vì phải.
Tôi yêu em.
Ba từ. Anh viết ba từ và nhìn, kiểu nhìn mười ba năm anh nhìn mọi thứ: đều, không biểu cảm. Nhưng ba từ trên giấy, mực đen, bàn gỗ sồi: ba từ anh chưa nói. Chưa nói bằng miệng, chưa nói bằng tin nhắn, chưa nói bằng hành động (dù hành động anh nói từ tuần hai: xóa nhật ký, xóa camera, nâng bảo vệ, nói dối Đình Viễn, nói dối Tuấn, kiểu nói bằng mười ba năm kỹ năng để che chắn một người).
Tôi yêu em không phải vì em giống cha em. Em không giống. Cha em nhẹ, em nặng. Cha em nói ít vì hiền, em nói ít vì giữ. Cha em nhìn tôi thấy đứa trẻ đói, em nhìn tôi thấy con dao. Cha em cho tôi cơm. Em cho tôi câu hỏi.
Tôi yêu em vì em là bằng chứng cha em tồn tại. Vì em sống, và cha em sống qua em: tay trái, cờ vua, kiểu nhìn không cúi. Nhưng, không chỉ vì thế. Nếu chỉ vì thế thì tôi giữ em, không yêu em. Giữ là kiểm soát. Yêu là, tôi không biết từ nào. Yêu là thứ Đình Viễn không dạy, cha em không dạy, không ai dạy. Yêu là thứ tôi biết vì em, kiểu biết sáu tuổi: không có gì trước để so sánh, nên biết mà không biết mình biết.
Anh dừng. Nhìn giấy, kiểu nhìn mười ba năm anh nhìn mọi thứ: đều, đánh giá. Nhưng đây không phải lệnh để đánh giá. Đây là thứ anh viết cho cô, mực đen, giấy trắng, đèn vàng T47. Quạt thông gió kêu. Phòng trống. Anh ngồi ghế cô, viết cho cô, và cô không ở đây.
Anh nghĩ về sáu tuổi. Trại mồ côi, sân bê tông, mười bốn đứa trẻ. Anh đứng góc tường, kiểu đứng sáu tuổi: góc, ít người, im. Đình Viễn đến, chọn anh vì "mắt không khóc khi bị đánh." Hai mươi năm sau, anh ngồi T47, viết cho con gái người dạy anh khóc (không phải khóc bằng mắt, khóc bằng hỏi "tại sao," kiểu khóc Đình Viễn ghét nhất).
Sáu tuổi, anh không có gì để mất. Bây giờ, ba mươi hai tuổi, anh có một thứ: cô. Và thứ đó đang ngồi sàn gạch lạnh, căn hộ tối, không trả lời.
Em sẽ quay lại. Anh viết. Tôi biết vì tôi đọc em mười sáu tuần: em không bỏ. Em nằm, em ngồi, em ngừng. Nhưng em không bỏ. Em sẽ đứng dậy, mở sổ tay, viết trang chín mươi tám. Em sẽ quay lại Aeternum, nhìn mọi thứ bằng mắt mới, và tìm thứ em chưa tìm: cách kết thúc.
Khi em quay lại, tôi sẽ ở đây. Ghế này, bàn này, T47. Kiểu ở tôi dùng mười ba năm, nhưng lần đầu mười ba năm: ở vì muốn, không phải vì phải.
Anh đặt bút. Nhìn giấy, kiểu nhìn lâu. Rồi gấp, kiểu gấp đôi, ba, bốn. Nhỏ, kiểu nhỏ vừa túi vest.
Không gửi. Bỏ túi vest trái, cạnh tim, kiểu bỏ người mang thứ không gửi vì chưa đến lúc.
Anh đứng dậy. Đi đến tường Đông, kiểu đi mười ba năm: bước đều, không vội. Nhìn tường: ô vuông nhạt nơi từng dán ảnh chụp biên bản, lỗ đinh nơi từng ghim bìa hồ sơ. Mười ba năm anh dán bằng chứng lên tường này, kiểu dán người xây hồ sơ tội phạm của chính ông chủ mà không biết mình đang xây cái gì.
Anh biết mình đang xây cái gì. Từ năm hai mươi ba, khi cha cô chết, anh biết: mỗi ổ cứng, mỗi bìa hồ sơ, mỗi lệnh anh lưu trên tường này là bằng chứng. Kiểu bằng chứng không phải cho tòa án (anh không tin tòa án, kiểu không tin Đình Viễn dạy: "Luật pháp là công cụ. Ai có công cụ lớn hơn thì thắng."). Bằng chứng cho ai đó sẽ đến. Ai đó anh không biết tên, không biết mặt, nhưng biết sẽ đến vì cha cô nói trong thư: "Con gái tao sáu tuổi, viết tay trái giống tao."
Cô đến. Mười sáu tuần trước, thang máy sảnh, "Làm muộn?" Anh biết cô là ai từ hôm đó. Biết vì anh đọc hồ sơ cha cô mười năm: Lâm Hữu Đức, con gái, Lâm Khả Vy, sinh năm 2000, tay trái. Cô bước vào Aeternum và anh nhìn cô trong thang máy, kiểu nhìn mười ba năm: đều, không biểu cảm. Nhưng bên trong, kiểu bên trong anh không cho ai thấy: một thứ gì đó dời chỗ. Kiểu dời chỗ nhỏ, kiểu dời quân cờ trên bàn cha cô dạy.
Mười sáu tuần sau, anh ngồi ghế cô, viết cho cô, thư gấp tư trong túi vest. Mười sáu tuần anh che chắn cô bằng mọi thứ Đình Viễn dạy: xóa nhật ký, xóa camera, nâng bảo vệ, nói dối, ghi chú "tạm hoãn" trên danh sách xử lý. Mười sáu tuần anh dùng kỹ năng con dao để bảo vệ người mà con dao được rèn để giết.
Cha em dạy tôi hỏi "tại sao." Em dạy tôi hỏi "cho ai."
Anh nghĩ câu này nhưng không viết. Kiểu không viết vì thư đã gấp, và câu này anh sẽ nói, không viết. Nói khi cô quay lại. Nói khi cô sẵn sàng nghe.
Không giờ. Thứ Bảy. T47. Đèn vàng.
Anh đứng dậy, ghế gỗ sồi. Đi, kiểu đi phòng chứng cứ trống mười ba năm: dọc bàn, qua tường Đông (ô vuông nhạt, lỗ đinh), qua tường Bắc (trống), đến cửa. Dừng. Quay lại nhìn phòng.
Phòng này. Cha cô từng ngồi đây, bàn này, cờ vua không quân. Đình Viễn từng đứng đây, tường Đông, kiểu đứng sở hữu. Anh đứng đây mười ba năm, kiểu đứng dao cắm vào tường. Và cô, cô ngồi đây thứ Ba, giọt nước mắt trên gỗ sồi.
Phòng này chứa hai mươi năm. Bây giờ trống.
Anh rút điện thoại. Nhìn tin nhắn tối qua: "Em ổn không?" Chưa đọc. Cô chưa mở. Anh biết, kiểu biết ứng dụng ghi: đã gửi, chưa nhận. Hai mươi bốn giờ.
Anh bấm gọi.
Chuông. Một. Hai. Ba. Bốn. Năm.
Cô nghe.
Im lặng. Dài, kiểu dài anh đếm: ba giây, năm giây, tám giây. Cô nghe mà không nói, kiểu nghe cô dùng mười sáu tuần: nghe trước, nói sau, hoặc không nói.
Anh nghe: hơi thở cô, đều, chậm, kiểu thở người thức khuya, kiểu thở người ngồi sàn gạch lạnh (anh đoán, kiểu đoán anh dùng mười sáu tuần: cô ngồi sàn khi sụp, không sofa, không ghế, sàn). Hơi thở cô, kiểu hơi thở hai mươi bốn giờ không trả lời: mệt, nhưng còn.
Mười giây. Mười hai giây.
– Em không cần tha thứ cho tôi.
Anh nói. Giọng đều, kiểu đều mười ba năm, kiểu đều anh giữ bằng mọi thứ Đình Viễn dạy. Nhưng nhẹ hơn, kiểu nhẹ nửa tông anh dùng ở bếp T46 tuần mười sáu, kiểu nhẹ anh không kiểm soát khi nói với cô.
– Nhưng đừng tha thứ cho Đình Viễn.
Im lặng. Năm giây. Hơi thở cô, đều.
Rồi cô nói. Giọng khàn, kiểu khàn người không nói hai mươi bốn giờ, kiểu khàn người ngồi sàn gạch lạnh đêm thứ Năm không ngủ:
– Tôi sẽ không tha thứ cho ai.
Dừng. Một giây.
– Kể cả mình.
Bốn từ cuối, kiểu bốn từ cô nói đều nhưng rỗng, kiểu rỗng anh nghe và biết: cô đã qua giận, qua đau, đến trống. Kiểu trống nguy hiểm nhất vì trống không có hướng.
Im lặng. Anh đứng T47, đèn vàng, phòng trống. Cô ngồi sàn gạch, căn hộ tối. Giữa: sóng điện thoại, tiếng thở, kiểu kết nối mười sáu tuần cô và anh xây bằng ống kính, bằng bếp T46, bằng cầu thang kỹ thuật, bằng bàn tay nắm trong bóng tối đêm mất điện.
Im lặng sau bốn từ. Dài, kiểu dài anh đếm: năm giây, mười giây. Hơi thở cô qua điện thoại, đều nhưng nông hơn, kiểu nông người vừa nói thứ nặng. Anh nghe hơi thở cô và không nói, vì anh biết: cô cần im lặng sau khi nói, kiểu cần mười sáu tuần cô đứng im sau mỗi phát hiện trước khi tiếp tục.
Rồi cô cúp máy. Không nói thêm, không từ biệt. Kiểu cúp cô dùng khi nói đủ.
Anh nhìn màn hình tối. Hai phút mười ba giây. Cuộc gọi ngắn nhất mười ba năm anh gọi ai đó, và dài nhất mười ba năm anh cần.
Thư trong túi vest trái. Gấp tư, mực đen, giấy trắng. Không gửi. Chưa.
Anh tắt đèn T47. Ra cửa, khóa, kiểu khóa mười ba năm. Hành lang tối, tòa nhà im. Năm mươi tầng dưới chân, Sài Gòn đêm.
Em sẽ không tha thứ cho ai. Kể cả mình.
Anh nghe lại trong đầu. Lặp, kiểu lặp anh dùng khi ghi nhớ: giọng cô, khàn, rỗng, bốn từ cuối.
Kể cả mình.
Anh đứng hành lang T47, tối, một mình. Và lần đầu mười ba năm anh đứng nơi này: anh không nghĩ về Đình Viễn, không nghĩ về T47, không nghĩ về mười ba năm. Anh nghĩ về cô. Ngồi sàn, căn hộ tối, sổ tay đóng. Trống.
Em sẽ đứng dậy. Anh nghĩ. Tôi biết. Vì tôi sáu tuổi cũng trống. Và tôi đứng dậy. Không vì dũng cảm. Vì không có lựa chọn nào khác ngoài đứng dậy.
Em sẽ đứng dậy. Và khi em đứng dậy, tôi sẽ ở đây.
Anh bước vào bóng tối hành lang. Tòa nhà im, năm mươi tầng, Sài Gòn đêm. Thư trong túi vest, gấp tư, chưa gửi.